Showing posts with label kinh tế. Show all posts
Showing posts with label kinh tế. Show all posts

13.10.25

Giải Nobel Kinh Tế 2025 và Việt Nam

Giải Nobel Kinh tế năm nay được trao tặng cho Joel Mokyr, Philippe Aghion, và Peter Howitt cho những nghiên cứu nhằm giải đáp cách sáng tạo đã thúc đẩy tăng trưởng lâu dài cho nền kinh tế. 

5.4.23

Chuyện thu phí ở Hội An

Muốn giải bài toán (problem) thì trước hết người ta cần phải biết và mổ xẻ bài toán hay vấn đề (problem) đó là gì trước. Bàn lời giải là một chuyện,  nhưng đôi khi lời giải lại không ứng vào bài toán, cũng như có nhiều lời giải cho một bài toán mà một người làm chính sách kinh tế hay làm toán phải tìm lời giải tối ưu ứng với bài toán đó. 

Chuyện của Hội An đòi bán vé người tham quan mục đích là để kiếm thêm thu nhập ngân sách. Đây là một lời giải. 

15.3.23

Bóng ma khủng hoảng tài chính

Vào thứ Sáu, các khách hàng của Signature Bank lo sợ về sự sụp đổ bất ngờ của Silicon Valley Bank (SVB), một ngân hàng lớn và nổi tiếng trong giới công nghệ ở Thung lũng Silicon, đã vội vã ra rút khoản hơn 10 tỉ đô la. Hậu quả là đã làm ngân hàng Signature Bank sụp đổ. Lúc này, lo sợ một sự sụp đổ dây chuyền lên tất cả hệ thống ngân hàng, giới chức Hoa Kỳ bắt đầu can thiệp và nắm giữ quyền điều hành cả hai ngân hàng. 

Chính quyền Mỹ cứu Silicon Valley Bank (SVB)

Việc các cơ quan của chính quyền Mỹ giải cứu ngân hàng SVB đang bị mất thanh khoản là một trường hợp kinh điển giúp cho những nhà làm chính sách và cả giới kinh tế tham khảo. 

Tài sản mà một tổ chức tín dụng nắm giữ thường được phân bố theo các loại tài sản với các mức thanh khoản khác nhau. Tài sản mang tính thanh khoản nhiều nhất là tiền mặt, sau đó đến các loại trái phiếu, cổ phiếu, tài sản tài chính, và kế đến là các tài sản cố định khác như nhà cửa, máy móc, v.v. 


Tổ chức tín dụng sẽ tính toán cân bằng sự phân bố tài sản để đảm bảo sao cho các hoạt động tài chính thông thường như rút tiền và gửi tiền được trôi chảy. 

20.12.22

Messi trên đồng tiền peso

Argentina có kế hoạch in hình Messi lên tờ tiền của họ. Nếu tôi là Messi, tôi sẽ bảo thôi, đừng làm vậy, chính phủ hãy tập trung trả nợ đúng hạn cho nhà đầu tư nước ngoài và đưa lạm phát xuống một con số. 

Tại sao tôi nói vậy. Hiện lạm phát ở Argentina đã ở mức đang tiến tới con số 100%. Dự trữ ngoại hối không có nên Argentina liên tục vỡ nợ trả tiền trái phiếu (default) cho nhà đầu tư nước ngoài. Chỉ riêng trong 22 năm của thế kỷ này đã vỡ nợ 3 lần. Đến nỗi giờ muốn đi bán trái phiếu chính phủ để vay thì đối với trái phiếu 10 năm, lợi tức của nó được tính toán phải cở 50%. 


Không còn ngoại hối nên phải phá giá đồng peso. Đầu năm 2017, một đô la Mỹ đổi được 16 peso. Chỉ sau 5 năm, hiện nay thì một đô la Mỹ đổi được hơn 170 peso. Tức là giá trị mất đi 10 lần sau 5 năm. 

14.12.22

Vinfast

Bản báo cáo mà công ty Vinfast gửi cho Uỷ ban Giao dịch Chứng khoán Mỹ ngày 6/12 cho thấy công ty có tổng tài sản là hơn 4,4 tỉ đô la, nợ tổng cộng là 8,8 tỉ đô la, và lỗ luỹ kế là gần 4,7 tỉ đô la. 

Chuyện nợ gấp đôi tài sản hay lỗ là chuyện bình thường đối với một doanh nghiệp khởi nghiệp. 


Cái quan trọng đối với một doanh nghiệp là dòng tiền và tiềm năng. 


Trong những tháng ngày tới, ít nhất là vài năm tới, liệu rằng dòng tiền vào có đủ để nuôi công ty tiếp tục chạy nữa hay không mới quan trọng. Việc bán một phần công ty bằng cách kêu gọi vốn trên sàn giao dịch chứng khoán Mỹ có lẽ vì lý do đó: Vinfast cần tiền để tiếp tục nuôi công ty. 


Nhưng muốn các nhà đầu tư bỏ tiền vào dự án thì Vinfast phải chứng tỏ họ là một công ty có tiềm năng đầu tư sinh lời. 

4.12.22

Việt Nam đang bước vào khủng hoảng tài chính

Dự trữ ngoại hối cạn kiệt. Dữ liệu dự trữ ngoại hối lần cuối cập nhật là vào tháng 6. Có lẽ vì thiếu ngoại hối nên không thể nhập xăng dẫn đến tình trạng thiếu xăng dầu trên diện rộng.

Việc Hoa Kỳ tăng lãi suất khiến dòng tiền trên thế giới đổ về Hoa Kỳ, làm tăng giá đồng đô la. 


Tại Việt Nam dòng tiền dịch chuyển từ thị trường chứng khoán sang tiền mặt và âm thầm chuyển khỏi Việt Nam dưới dạng ngoại tệ.


Chính quyền thực hiện chính sách tiền tệ neo giữ giá trị tiền Đồng trong biên độ với đồng đô la. Để giữ giá trị tiền đồng trong khi đồng đô la Mỹ lên giá, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) buộc phải can thiệp bằng cách bán ra đồng đô la. Chính sách này khiến dự trữ ngoại tệ nhanh chóng bốc hơi. Còn nếu NHNN không bán ngoại tệ ra sẽ dẫn đến tình trạng áp lực phá giá tiền đồng và lạm phát tăng vọt ngay lập tức tạo ra bất ổn vĩ mô. 

Vụ phá sản sàn giao dịch tiền mã hoá FTX

Sàn giao dịch tiền mã hoá FTX, một trong những sàn giao dịch tiền mã hoá lớn nhất thế giới vừa khai phá sản. 

Thông thường thì một sàn giao dịch tài sản sẽ giúp giữ tài sản của khách hàng và ăn tiền hoa hồng đối với các giao dịch. Chủ sàn chỉ có thể lỗ nếu chi phí duy trì sàn lớn hơn lợi nhuận kiếm được. Với nhiệm vụ giữ tiền cho khách hàng, khách hàng có thể rút tiền bất cứ lúc nào họ cần. 


Người ta gửi tiền vào FTX vì tin. Nhưng khi họ bắt đầu biết tin FTX không còn tiền mặt, nhất là khi phi vụ hợp nhất với Binance, một sàn giao dịch điện tử khác không được thông qua, thì những người gửi tiền vào tài khoản sàn FTX vội vã rút ra. Việc các khách hàng đồng loạt rút tiền đã làm FTX sụp đổ, vì trong các tài khoản của FTX không còn đủ tiền để trả cho các khách hàng. Số tiền mà các khách hàng gửi vào FTX đã bị đem đi chi dùng sai mục đích. Số tiền đó giờ ở đâu thì vẫn đang được các cơ quan điều tra tiến hành.

Thời sự thế giới và Việt Nam

Còn một tuần nữa là bầu cử giữa kỳ ở Mỹ. Đảng Cộng hoà được dự đoán sẽ nắm đa số ở Hạ viên và có thể ở Thượng viện. Bằng việc nắm đa số ở ít nhất một viện, đảng Cộng hoà sẽ chặn tất cả các dự luật và chính sách của tổng thống Joe Biden của đảng Dân chủ. Vì vậy mà sau kỳ bầu cử giữa kỳ tuần tới, nhiệm kỳ của ông Biden coi như là kết thúc.  


Sau hai năm nắm quyền, chính quyền của ông Joe Biden đã chứng kiến một cuộc khủng hoảng năng lượng, lạm phát tăng cao, thị trường chứng khoán sụp đổ, áp lực thanh khoản đang đè nặng, và một cuộc khủng hoảng tài chính sắp diễn ra. 


Kể cả những cơ quan truyền thông cánh tả, những đồng minh chủ yếu của ông Biden, cũng không còn đủ kiên nhẫn và công khai kêu gọi ông đừng ra ứng cử vào nhiệm kỳ tới.


Vấn đề lớn nhất hiện nay đó là thế giới bước vào một cuộc khủng hoảng nhưng không có những người lãnh đạo để lèo lái cuộc khủng hoảng này.

Tại sao chính quyền nên để ngân hàng phá sản

Một ngân hàng, như một doanh nghiệp, khi khó khăn về tài chính nó phải cố gắng hút thêm tiền. Doanh nghiệp sẵn sàng trả lãi cao hơn để vay thì ngân hàng cũng nâng lãi suất tiết kiệm lên để thu hút tiền gửi. Ngân hàng nâng lãi suất tiền gửi lên sẽ bào mòn lợi nhuận. Với cơ chế quản trị vốn đã yếu nó chỉ có thể hoạt động bằng cách lấy tài sản người gửi sau trả cho người gửi trước. 


Nếu người gửi biết rằng tiền mình có thể mất khi gửi vào những nơi như vậy, họ sẽ không gửi nữa. Ngân hàng sẽ phải bị tái cấu trúc hoặc mua lại. Ngân hàng sẽ ít có khả năng gây ra những sự phá hoại mang tính hệ thống đối với hệ thống tài chính quốc gia.


Ngược lại, nếu người gửi nghĩ rằng tiền mình gửi vào đó chắc chắn được nhà nước bảo đảm hết và ngân hàng không thể nào phá sản và nó chắc chắn được nhà nước mua lại, người ta sẽ gửi tiền vào chỗ có lãi cao nhất bất chấp khả năng quản trị của ngân hàng đó. 


Ở đây có vài hệ luỵ xảy ra.

Công ty nước bùn

Những người theo dõi thị trường tài chính thế giới hơn 10 năm trước có lẽ sẽ nhớ Muddy Waters. 

Đó là một công ty chuyên bán khống cổ phiếu sau khi nghiên cứu. Người sáng lập là Carlson Block. Block vốn là một luật sư. Thời trẻ sang Trung Quốc tìm kiếm cơ hội lập thân. Ở đó, Block nhận ra rằng nhiều công ty Trung Quốc chỉnh sửa dữ liệu kế toán để lừa đảo người đầu tư. Block trở về Mỹ và lập công ty Muddy Waters, tức nước bùn. 


Khi nước đầy bùn mới dễ bắt cá. Kể từ đó Block tập trung vào bán khống (short) những công ty Trung Quốc và khui ra những dối trá của nó. Khi bán khống cổ phiếu một công ty thì cổ phiếu công ty càng đi xuống thì người bán khống càng lời nhiều.

12.6.22

Khi lạm phát tiếp tục tăng ở Mỹ

Tuần rồi, báo cáo chỉ số lạm phát của Mỹ tăng lên 8,6% vào tháng 5, mức cao kỷ lục trong 40 năm qua. 


Như đã đề cập trong bài trước “Lạm phát và Khủng hoảng”, việc tăng lãi suất của ngân hàng trung ương sẽ không có tác dụng làm lạm phát giảm xuống. Và như đã thấy, lạm phát chưa có dấu hiệu hạ nhiệt dù lãi suất tăng liên tục. 


Đó là bởi vì nguồn gốc của lạm phát ở đây chủ yếu là việc đứt gãy chuỗi cung ứng làm mất nguồn cung hàng hoá và đóng góp vào đó là sự tăng giá xăng dầu. Các yếu tố khác như lương tăng có đóng góp nhưng không phải nguyên nhân chính tạo nên tình trạng lạm phát trên toàn cầu. 

Lạm phát và khủng hoảng

Mấy tháng trước, giá một thùng cloro để xử lý hồ bơi khoảng 120 đô la Mỹ. Cho một hồ bơi hơn 100 khối thì một thùng như vậy dùng được 3 tháng. Giờ giá đã tăng lên 300 đô la một thùng, tức hơn gấp đôi. Nhưng mua không có, nhiều tiệm lớn đã hết hàng. Nhưng cloro không phải là thứ hàng hoá duy nhất tăng giá. Mọi thứ đều tăng giá một cách phi mã. Một bịch gạo mấy tháng trước mua 8 đô la thì giờ đã là 10 đô la. 

Mọi thứ thiết yếu tăng giá nhưng lương bổng thì hầu như không tăng vì các doanh nghiệp đều đang chật vật hồi phục sau đại dịch. Điều đó dẫn đến người tiêu dùng lo cho những nhu cầu cơ bản của cá nhân trước khi quan tâm đến những nhu cầu hay dịch vụ xa xỉ khác. Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ vì vậy mà không dám tăng giá, ngậm ngùi nhìn mức lợi nhuận, nếu còn, của mình bị bào mòn. 

23.11.21

Làm sao để Vinfast thành công?

Việc Vinfast đem hai chiếc xe hơi ra triển lãm ở hội chợ quốc tế gây ra những phản ứng khác nhau trong cộng đồng. 

Trong kỷ nguyên toàn cầu hiện nay, việc mở một công ty, làm ra một sản phẩm, và đem đi rao bán không phải là một điều gì quá khó khăn, cho dù sản phẩm đó là xe hơi, máy tính hay một công cụ hay máy móc khác. 


Vấn đề quan trọng nhất của một doanh nghiệp đó là lợi nhuận, còn các sản phẩm với công nghệ có sẵn thì muốn làm là được, miễn là có tiền để đầu tư. 

25.10.21

Tại sao họ muốn rất giàu?

Hôm trước, Elon Musk và Jeff Bezos cạnh khía nhau ai là người giàu nhất thế giới và giờ đây là cuộc cạnh tranh xem ai là người dẫn đầu trong cuộc đua của ngành công nghệ khai thác không gian.

Musk và Bezos là hai người giàu nhất thế giới hiện nay. Musk là người sáng lập và hiện đang điều hành hai công ty: công ty xe điện Tesla và công ty công nghệ khai thác không gian SpaceX. Tài sản của Musk hiện được định giá là 230 tỉ đô la theo Bloomberg. Bezos là người sáng lập công ty bán hàng online Amazon và hiện là chủ công ty khai thác không gian Blue Origin. Tài sản của Bezos được định giá khoảng 212 tỉ đô la. Để tiện so sánh thì thu nhập quốc dân của cả Việt Nam năm 2020 là 271 tỉ đô la. Cả hai đều ở lứa tuổi 50 và không ai có nhu cầu ngừng làm việc. Musk, ngoài Tesla và SpaceX, trong mấy năm gần đây đã lập thêm ba công ty: OpenAI để thúc đẩy nghiên cứu trí tuệ nhân tạo, NeuraLink để nghiên cứu tương tác giữa não bộ con người và máy tính, và Boring Company để xây dựng đường hầm. Còn Bezos thì quản lý các dự án đầu tư mạo hiểm của mình trong quỹ Bezos Expeditions và trong tháng 9 vừa rồi lập thêm một công ty công nghệ sinh học lấy tên là Altos. 

26.6.21

Những nhân tố nào giúp một quốc gia phát triển, và tại sao Việt Nam đã không phát triển?

Điều gì khiến những quốc gia khác phát triển, còn nước mình thì không? Đó là câu hỏi mà có lẽ nhiều người Việt chúng ta ai cũng đã từng tự đặt ra cho mình. Trong sự chủ quan của kiến thức, mỗi người tự đưa ra một câu trả lời của riêng mình, không ai giống ai. Nhiều người bi quan, tự cho rằng cái số, cái vận nước mình nó vậy. 

Câu hỏi đó nó không chỉ là một sự quan tâm, một tình cảm của một con người với xứ sở mình gắn bó, yêu thương, mà nó trước hết còn là một trăn trở. 


Ở phía những học giả, gạt qua một bên những tình cảm, người ta tìm cách lý giải sự phát triển của một vùng đất, một quốc gia dựa vào những nhân tố khác nhau. Trong những nhân tố đó, có cái là do ở sự may mắn, những điều thừa hưởng; nhưng bên cạnh đó, có nhiều yếu tố do sự tác động của con người. 

2.5.21

Văn hoá và cách biệt xã hội

Từ thị trấn ven biển, mất khoảng hai tiếng lái xe, qua bao nhiêu là những đồn điền trồng bắp, những đồng bắp chạy dài từ những cánh đồng bằng phẳng, leo lên núi, rồi lại xuống đồng phẳng, là đến một thị trấn nông thôn miền núi, ngoại ô của một thành phố đồng bằng. Vùng này có những con sông, đất đai rộng rãi, phì nhiêu, đồi núi chập chùng, dân từ xưa tập trung đông làm nông nghiêp, nhờ vậy mà thành một vùng trù phú. Nhìn cảnh nhà cửa xây cất tươm tất, tôi bất chợt bảo ông bạn đi cùng rằng ở đây người dân có vẻ giàu có hơn người dân xứ biển dưới kia. Ông bạn đi cùng, một chủ thầu xây dựng, chưa từng học kinh tế, ngắt lời, giàu nghèo nó cũng tuỳ. Ở dưới kia, dân họ đi biển, một tuần có khi kiếm vài ngàn đô, nhưng kiếm tiền về họ đem nhậu hết, nhậu có khi mấy ngày liền. Không biết để dành lẫn chi tiêu, vì vậy mà họ nghèo. Còn dân trên này, họ tiết kiệm. Dân vùng núi, kiếm tiền nhờ trồng trọt, khai thác lâm sản, làm thợ thủ công, và buôn bán nhỏ. Họ biết tiết kiệm hơn, nhờ vậy mà tươm tất hơn. Đó là do văn hoá. Rồi ông kể tiếp, dân trên này sau này kinh tế khó khăn, họ dạt xuống thành phố biển dưới kia, vì vậy mà giúp thành phố biển dưới kia phát triển. 

Trong kinh tế học dòng chính, để lý giải cho sự phát triển của một vùng hay một quốc gia, người ta dựa chủ yếu vào ba đại lượng đong đếm được đó là năng suất lao động, lượng nhân công, và nguồn vốn. Và đứng sau tác động lên cả ba đại lượng đó là văn hoá, giáo dục và tri thức. Văn hoá bao gồm những kiến thức được học từ gia đình và cộng đồng, những thói quen, tín ngưỡng, niềm tin, sự suy nghiệm, khả năng phán xét, và nhận thức nói chung của một con người. Văn hoá nó dẫn dắt một người rằng có nên xem trọng tri thức và giáo dục không, và từ đó ảnh hưởng đến mức tri thức và giáo dục mà người đó cố gắng tiếp nhận được. Làm việc chăm chỉ, biết tiết kiệm, biết cách mua bán, giao tiếp, biết đầu tư, biết cách giải quyết vấn đề…là những thói quen mà một người chịu ảnh hưởng rất nhiều từ gia đình và cộng đồng, và đó cũng là những tính cách quyết định mức độ sung túc của một người. 


Không đâu mà khoảng cách giàu nghèo, khoảng cách văn hoá, cách biệt như ở Nam Mỹ. Cách biệt giữa thành phố và nông thôn, giữa người da trắng, da màu và da đen, giữa vùng núi, vùng đồng bằng và vùng biển. Chỉ cần lái xe đi vài tiếng đồng hồ đã cảm thấy được sự cách biệt. 


Da càng trắng thì thường càng giàu. Chính trường vì vậy cũng chủ yếu được kiểm soát bởi đa số những người da trắng. 


Tại sao lại có sự khác biệt như vậy? Đó là ở văn hoá. 


Nam Mỹ cũng như Bắc Mỹ, nơi đây được gọi là Thế giới Mới (New World). Ở Thế giới Mới này, vô số những người nhập cư đến đây hàng ngày hàng giờ. Họ đến từ mọi miền của thế giới. Nếu như ngày nay, người châu Á chủ yếu tìm kiếm các cơ hội nhập cư vào Bắc Mỹ gồm Mỹ và Canada, vì ở đây có họ hàng, bà con, có cộng đồng, có công việc, cơ hội, có nền giáo dục tốt, có chế độ an sinh xã hội hay nhiều lý do khác nhau, thì Nam Mỹ vẫn còn là một vùng đất cách biệt, hoang sơ, ít được biết đến, nhưng nó vẫn ngày ngày đón nhận thêm những dòng người nhập cư, chủ yếu là người da trắng từ các nước châu Âu lục địa, từ Mỹ, từ Canada, và một số người Hoa từ Trung Quốc lục địa. 


Trong thế giới hỗn tạp với vô số con người của thế giới mới này, như Bắc Mỹ, không ai biết ai, không ai tin ai, và người ta hoạt động chủ yếu dựa vào uy tín. Mà uy tín có được hoặc là nhờ ở sự hợp tác lâu dài, quen biết lẫn nhau, hoặc là từ ở sự giới thiệu. 


Ở châu Âu, nhờ ở vai trò tổ chức xã hội chặt chẽ của chính quyền, bằng cấp và tước vị được ghi nhận như là thước đo cho trình độ, khả năng hay uy tín của một người. Bằng cấp hay tước vị do đó được dùng như một thứ để tham khảo trong các hoạt động đề bạt hay hợp tác.


Điều này hoàn toàn vắng bóng ở Thế giới Mới. Cả Nam Mỹ và Bắc Mỹ do đó các hoạt động dựa chủ yếu trên sự giới thiệu. Uy tín và mạng lưới bạn bè của một người trở nên cực quan trọng. Cả hai điều này, uy tín và mạng lưới bạn bè, đều mang tính kế thừa, và nó thuộc một phần về văn hoá. Gia đình có uy tín trong một hoạt động nào đó thì những đứa con nhờ đó cũng thừa hưởng điều này. Nhờ thừa hưởng uy tín và mạng lưới bạn bè mà thế hệ kế tiếp có thể dễ dàng phát triển những hoạt động của mình. 


Cả hai điều này, uy tín và mạng lưới bạn bè, là những thứ đòi hỏi thời gian xây dựng mà người ngoài không dễ dàng có được. Điều đó lý giải tại sao sự giàu có và thành công quẩn quanh ở một nhóm người, một nhóm sắc tộc, mà khó thể mở rộng ra các sắc tộc khác dù hầu như không có bất kỳ một rào cản nào khác hạn chế những sắc tộc khác tham gia vào các hoạt động từ kinh tế đến chính trị. 


Khi những người da trắng đầu tiên di cư qua những vùng đất Nam Mỹ, công việc đầu tiên họ chọn là khai phá nông nghiệp, mở những nông trại, đồn điền. Họ tập trung ở các vùng đồng bằng, dọc những dòng sông, hoặc những thảo nguyên rộng lớn có khí hậu ôn đới. Ngày nay, những vùng này trở thành những thành phố sầm uất với nhiều người da trắng. Người thổ dân bản địa sống chủ yếu ở các vùng duyên hải nghèo khó hoặc vùng rừng Amazon. 


Người da trắng đến Nam Mỹ đem theo luôn văn hoá châu Âu của họ. Trong văn hoá này, ngoài đức tin Thiên chúa, họ cũng chú trọng quan tâm đến kiến thức và học vấn hơn hẳn những người dân bản địa khác. Nhờ học vấn và tri thức, người da trắng dần dà nắm giữ hầu hết các chức vụ then chốt trong hệ thống công quyền dù họ hiện nay là một thiểu số trong cộng đồng. 


Nguyễn Huy Vũ

2/5/2021

4.3.21

Anh nuôi dưỡng những ngành công nghiệp non trẻ

Một trong những quyết định gây tranh cãi trong dư luận của tổng thống Donald J Trump là quyết định đánh thuế nhập khẩu với sản phẩm thép và nhôm nhằm bảo vệ ngành công nghiệp thép và nhôm của Mỹ. Nó gây tranh cãi bởi vì từ rất lâu, ít nhất là một thế hệ, cả thế giới hầu như say cuồng với tinh thần toàn cầu hoá. Mà toàn cầu hoá thì đi cùng với nó là gỡ bỏ những rào cản về giao thương, thuế và các thủ tục khác nhau. 




Người ta được rao giảng rằng toàn cầu hoá là xu thế của nhân loại, và rằng toàn cầu hoá đem lại lợi ích cho nhiều quốc gia, nhất là những quốc gia chậm tiến khi họ có cơ hội tiếp xúc, trao đổi, và giao thương với các nước phát triển hơn. Hàng hoá trở nên rẻ hơn khi được sản xuất ở các nước nghèo. Công nghệ du nhập vào các nước nghèo theo các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư trực tiếp (FDI). Việc làm được tạo ra, lương bổng được tăng lên, công nhân được đào tạo, ngân sách được mở rộng, và vài mặt hàng nông sản được dịp xuất khẩu — đó là những mặt tích cực của toàn cầu hoá đem lại cho các nước nghèo. 


Những điều tích cực dễ dàng nhận thấy bởi những người bình thường. Còn mặt trái của toàn cầu hoá thì diễn ra một cách chậm hơn, kín đáo hơn, và tạo ảnh hưởng sâu rộng hơn. Toàn cầu hoá sẽ khiến các công ty vừa và nhỏ ở các quốc gia chậm tiến sớm muộn gì cũng sẽ bị mua lại hoặc huỷ diệt bởi các công ty đa quốc gia sở hữu bởi giới tài phiệt các nước giàu mạnh. Toàn cầu hoá nhìn theo góc cạnh này chính là sự bành trướng của những đế quốc thương mại. Sự bành trướng của các đế quốc thương mại dưới danh nghĩa là các công ty đa quốc gia đến lược nó sẽ tạo ra một mối nguy hại về an ninh quốc gia đến các nước khác. Sự bất ngờ và thiếu thốn những mặt hàng cơ bản như khẩu trang và dụng cụ bảo hộ y tế ở các nước phát triển khi dịch cúm Tàu xảy ra và Trung Quốc hạn chế xuất khẩu là một ví dụ điển hình nhất về tác hại đến an ninh quốc gia khi mà từ lâu rồi các nước phát triển không còn sản xuất những mặt hàng này. Giả sử rằng thép và nhôm, do bị cạnh tranh ráo riết và liên tục thua lỗ dẫn đến phá sản, buộc phải đóng cửa các nhà máy ở Mỹ, và rằng Trung Quốc trở thành một công xưởng sản xuất thép và nhôm lớn nhất thế giới, thì điều gì sẽ xảy ra khi vài chục đến một trăm năm sau xảy ra một cuộc chiến tranh thế giới lần thứ ba? Đó chẳng phải là lúc mà Mỹ buộc phải đối diện với một cuộc khủng hoảng khi chẳng thể tự cung cấp thép và nhôm cho ngành công nghiệp quốc phòng?


Nói như vậy không có nghĩa là chống triệt để toàn cầu hoá. Và cho dù muốn chống thì trong thời đại của liên lạc tốc độ nhanh nhờ ở mạng Internet với tốc độ ngày càng tăng, việc di chuyển bằng máy bay trở nên rẻ hơn, và việc biên giới các nước cởi mở hơn với các hoạt động du học, du lịch, thương mại, và định cư, thì việc đóng cửa một quốc gia là điều trở nên bất khả thi nếu không muốn gặp phải những chống đối, trừ khi có những lý do chính đáng như đại dịch.


Nhìn vấn đề ở cả hai khía cạnh của toàn cầu hoá để thấy rằng việc các nước giàu mạnh dùng toàn cầu hoá như là một cách để chinh phục và ảnh hưởng thương mại lên các nước nhỏ, đưa họ vào hệ thống do mình thiết lập, và sẵn sàng lên gân nếu cần. Hãy nhìn cách nước Mỹ liệt kê các nước vào danh sách thao túng tiền tệ hay áp lực tối đa các nước chống đối bằng cấm vận thương mại sẽ hiểu được sức mạnh của mạng lưới thương mại có được nhờ ở toàn cầu hoá. 


Hiểu vấn đề như vậy thì bạn sẽ không ngạc nhiên khi biết rằng các nước phát triển hiện nay đã từng là những nước có công nghệ lạc hậu so với các nước đương thời cách đây vài thế kỷ, và họ đã dùng mọi phương tiện khác nhau, từ hạ sách đến thượng sách, cốt để nắm lấy ưu thế về kỹ thuật trước các đối thủ đương thời. Bảo hộ mậu dịch, nuôi dưỡng những ngành công nghiệp non trẻ, và trong lúc đó cố gắng xây dựng chiến lược thay thế nhập khẩu là một cách như vậy nhằm dựng xây nên một nền công nghiệp. Nước Anh đi đầu, và sau đó Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan, một cách thật ngạc nhiên, đã đi đúng con đường của Anh.


Câu chuyện dưới đây được kể lại từ cuốn “Kicking Away the Ladder” (Đá chiếc thang đi xa) của Ha Joon Chang, và ông Chang, giáo sư đại học Cambridge của Anh, đã mượn lại câu chuyện kể này từ một cuốn sách viết cách đây gần ba thế kỷ và gần như bị lãng quên “A Plan of the English Commerce” (Một Kế hoạch Về Thương mại của người Anh) (1728) của Daniel Defoe.


***


Anh tiến vào thời kỳ hậu phong kiến, vào khoảng thế kỷ 13 và 14, với một nền kinh tế tương đối lạc hậu so với các nước châu Âu khác trong lục địa. Cho đến năm 1600, Anh chủ yếu nhập công nghệ từ các nước châu Âu khác trong lục địa. 


Nền kinh tế Anh phụ thuộc chủ yếu vào xuất khẩu len thô, và một phần nhỏ là vải len có phẩm chất thấp, sang các vùng phát triển hơn ở các nước Hạ Quốc (Low Countries) trong lục địa châu Âu lúc bấy giờ là Bruges, Ghent, và Ypres ở vùng Flanders mà nay là một phần của Bỉ. 


Hoàng gia Anh lúc này đánh thuế lên những sản phẩm này để có nguồn thu. Thuế đánh lên vải khá thấp trong khi thuế đánh lên len thô cao hơn. Len thô chuyển sang châu Âu lục địa dệt thành vải gửi bán lại ở Anh do đó giá thành trở nên rất cao. Dân Anh vì vậy mà dùng vải nội địa nhiều hơn, và một phần vải còn đem đi xuất khẩu vì giá cạnh tranh hơn các nước. Ngành công nghiệp dệt vải nhờ đó mà phát triển. 


Vua Edward Đệ Tam (1327-1377) là vị vua đầu tiên nỗ lực phát triển ngành sản xuất vải len nội địa. Ông chỉ mặc mỗi vải của Anh để khuyến khích dân chúng dùng vải nội địa. Song song đó, ông khuyến khích những thợ dệt vùng Hạ Quốc sang định cư ở Anh, quy hoạch tập trung các hoạt động buôn bán len thô, và cấm nhập khẩu vải len. 


Các vua thuộc triều Tudor đã đi xa hơn trong việc phát triển ngành công nghiệp dệt vải len bằng cách thực hiện một chính sách có chủ đích nhằm thúc đẩy ngành công nghiệp non trẻ này. 


Theo đó, các vua triều Tudor, đặc biệt là Henry Đệ Thất (1485-1509) và Elizabeth Đệ Nhất (1558-1603), đã biến nước Anh từ chỗ là một nước phụ thuộc nặng nề vào việc xuất khẩu len thô sang các nước Hạ Quốc trở thành một quốc gia sản xuất len đứng đầu thế giới. 


Henry Đệ Thất trước khi đăng quang vào năm 1485, sống gần như là một người tị nạn nhờ sự bảo bọc của dì là nữ công tước xứ Burgundy. Ở đó, ông ta cực kỳ ấn tượng với sự thịnh vượng của các nước Hạ Quốc nhờ vào việc sản xuất len. Vì vậy mà sau khi đăng quang, từ năm 1489, ông đã đưa ra những kế hoạch để thúc đẩy ngành sản xuất len của Anh và bắt đầu thực hiện chính sách thay thế nhập khẩu. 


Ở đây, chính sách thay thế nhập khẩu là chính sách dùng thuế và các công cụ luật lệ khác nhau khiến cho hàng hoá sản xuất trong nước trở nên cạnh tranh về giá cả và chất lượng so với các sản phẩm nước ngoài và từ đó mà đánh bật hàng ngoại nhập, giúp nuôi dưỡng các doanh nghiệp nội địa từ từ lớn mạnh. 


Để thực hiện chính sách của Henry Đệ Thất, chính quyền Anh lúc bấy giờ thực hiện những phương thức sau: gửi những phái đoàn của hoàng gia đi thăm dò xem những khu vực nào thích hợp để sản xuất len; lùng đón những nghệ nhân dệt thạo nghề từ những nước Hạ Quốc và đưa sang Anh; tăng thuế, và thậm chí là tạm thời cấm việc xuất khẩu, len thô của Anh. 


Các sắc lệnh được đưa ra trong các năm 1489, 1512, 1513, và 1536, giúp cấm việc xuất khẩu vải chưa hoàn thiện.


Một quan điểm phổ biến lúc bấy giờ đó là bán vải len có lợi hơn là bán len thô, và bán vải đã nhuộm, sẵn sàng để mặc, có lợi hơn là vải đang sản xuất nửa vời. 


Tuy vậy, vua Henry Đệ Thất nhận ra rằng với khoảng cách công nghệ của Anh so với các nước Hạ Quốc, cuộc thay đổi này sẽ mất một thời gian rất lâu. Vì vậy mà ông thực hiện cách tiếp cận từ từ. 


Ông chỉ áp thuế xuất khẩu lên len thô khi ngành công nghiệp sản xuất vải len đã định hình một cách vững chắc. Và ngay khi thị trường cho thấy rõ ràng rằng Anh không đủ khả năng để xử lý tất cả len thô mà họ sản xuất được, thì ông ta mới rút lệnh cấm xuất khẩu len thô mà ông đã áp trước đó. 


Phải cho đến thời của Elizabeth Đệ Nhất (1587), gần 100 năm sau khi Henry Đệ Thất bắt đầu chính sách thay thế nhập khẩu (1489) lúc này Anh mới tự tin về khả năng cạnh tranh quốc tế của ngành sản xuất len của mình, và từ đó cấm việc xuất khẩu len thô hoàn toàn. Điều này cuối cùng khiến cho những nhà sản xuất len ở các nước Hạ Quốc phá sản. 


Bên cạnh chính sách thay thế nhập khẩu, những nhân tố khác cũng đóng góp vào quá thắng lợi của ngành công nghiệp len nước Anh thời Elizabeth Đệ Nhất. 


Một số nhân tố mang tính cách may mắn, chẳng hạn như sự nhập cư của những thợ dệt nói tiếng Hà Lan vùng Flanders (flemish) vốn theo đạo Tin Lành (Protestant) đã bỏ chạy sang Anh khi xảy ra chiến tranh giành độc lập khỏi Tây Ban Nha vào năm 1567. 


Tuy vậy, những nhân tố khác đã được tính toán, thực hiện, và cố đạt được bởi chính quyền. Chẳng hạn, nhằm mở rộng những thị trường mới, Elizabeth Đệ nhất đã gửi những đại diện thương mại của Anh đến gặp Giáo hoàng và các vua của Nga và Ba Tư nhằm thiết lập các kênh thương mại. Nước Anh cũng đã rất khôn ngoan đầu tư vào hải quân nhằm đạt được một ưu thế cách biệt so với các đối thủ, và nhờ vào hải quân, Anh có thể dễ dàng xâm nhập vào các thị trường mới, đô hộ nó, và biến nó thành những thị trường bị thao túng nhằm đem lại lợi nhuận cho mình. 


Với doanh thu chiếm tới một nửa tổng doanh thu xuất khẩu của Anh trong suốt thế kỷ 18, ngành công nghiệp len đã giúp Anh đạt những bước thành công đầu tiên trong quá trình công nghiệp hoá. 


Năm 1721, thủ tướng đầu tiên của Anh, Robert Walpole, cải cách đạo luật thương mại đánh dấu một sự dịch chuyển lớn trong chính sách công nghiệp và thương mại của Anh.


Trước khi cải cách, chính sách thương mại của Anh chủ yếu nhắm vào kiểm soát thương mại và để tạo ra các nguồn thu ngân sách cho chính phủ. Theo đó các giao thương được thực hiện chủ yếu với các thuộc địa và thông qua các đạo luật về hàng hải, vốn quy định việc giao thương với Anh Quốc phải được thực hiện trên các thuyền của Anh.


Việc thúc đẩy ngành sản xuất len ở trên là một ngoại lệ nhưng nó thực ra được thúc đẩy một phần bởi nhu cầu tăng thu ngân sách cho chính quyền. 


Ngược lại, các chính sách giới thiệu vào năm 1721 được suy xét nhằm thúc đẩy những ngành công nghiệp sản xuất. 


Khi đưa ra luật mới, thủ tướng Walpole phát biểu rằng: “rõ ràng không có gì đóng góp nhiều vào việc thúc đẩy phúc lợi công chúng bằng việc xuất khẩu những hàng hoá được chế tạo và nhập về những vật liệu thô từ nước ngoài.”


Luật 1721 và những bổ túc chính sách sau này của nó bao gồm các phần sau. 


Thứ nhất, thuế nhập khẩu (import duty) lên vật liệu thô dùng cho chế tạo được giảm xuống, hoặc thậm chí là bỏ hết. 


Thứ hai, số tiền thuế được hoàn trả (duty drawback) đối với các vật liệu nhập khẩu dùng cho các mặt hàng xuất khẩu được tăng lên. Chính sách này đã được thiết lập từ thời William và Mary. Điều này giúp hạ giá thành các sản phẩm tạm nhập và tái xuất, giúp sản phẩm xuất khẩu của Anh cạnh tranh hơn trên trường quốc tế. 


Chẳng hạn, thuế nhập khẩu đánh lên da con hải ly sẽ được giảm xuống và trong trường hợp tái xuất khẩu thì nhà sản xuất các mặt hàng làm từ da con hải ly sẽ được tăng khoản tiền thuế hoàn lại, lên một nửa tiền thuế chẳng hạn. 


Thứ ba, thuế xuất khẩu (export duty) lên tất cả các sản phẩm chế tạo được bãi bỏ. Điều này giúp tăng tính cạnh tranh về giá cả cho các mặt hàng sản xuất của Anh.


Thứ tư, tăng thuế nhập khẩu lên các sản phẩm chế tạo ở nước ngoài được nhập vào tiêu dùng trong nước. 


Thứ năm, trợ cấp xuất khẩu được mở rộng sang những sản phẩm mới như các sản phẩm lụa tơ tằm (1722) và thuốc súng (1731), trong khi trợ cấp cho các sản phẩm xuất khẩu khác như vải buồm (sailcloth) và đường tinh luyện được tăng lên vào các năm 1731 và 1733 tương ứng. 


Thứ sáu, các quy chuẩn (regulation) được đưa ra nhằm kiểm soát chất lượng của các hàng hoá chế tạo, đặc biệt là các sản phẩm dệt, nhờ vậy mà các nhà sản xuất vô lương tâm không thể phá hỏng danh tiếng của hàng hoá Anh Quốc trên các thị trường nước ngoài. 


Tóm lược lại, luật này có các tác dụng như sau: i) những nhà sản xuất phải được bảo vệ ngay trong nội địa khỏi sự cạnh tranh với các sản phẩm nước ngoài; ii) đảm bảo việc xuất khẩu những mặt hàng hoàn thiện tự do và không phải chịu thuế; iii) và khi có thể, việc khuyến khích phải được đưa ra bằng cách dùng tiền thưởng hoặc trợ cấp.


Điều thú vị là những chính sách được giới thiệu trong đạo luật cải cách năm 1721 và cả những nguyên lý phía sau nó, một cách ngạc nhiên, rất giống những chính sách được thực thi bởi Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan trong suốt giai đoạn hậu chiến của họ — giai đoạn mà ở đó, các nền kinh tế này đã hồi sinh và vươn lên trở thành những nền công nghiệp năng động và hiện đại. 


Cùng với cuộc Cách mạng Công nghiệp trong nửa sau thế kỷ 18, Anh Quốc bắt đầu dẫn đầu khả năng công nghệ vượt qua những nước khác. Dù vậy, họ vẫn tiếp tục chính sách thúc đẩy công nghiệp cho tới giữa thế kỷ 19, và lúc này thì sự ưu việt về kỹ thuật của Anh đã vượt trội. 


Trong chính sách bảo hộ và thúc đẩy những ngành công nghiệp mới, Anh chủ yếu dùng các sắc thuế. Họ đã duy trì mức thuế nhập khẩu cao trên các sản phẩm sản xuất từ nước ngoài cho tới thập niên 1820, và kể cả khi họ đã dẫn đầu các đối thủ về công nghệ. Bên cạnh thuế, những biện pháp hành chính khác cũng được triển khai. 


Trong việc giao thương, mà chủ yếu với các thuộc địa, Anh cấm nhập khẩu những sản phẩm chất lượng tốt từ một số thuộc địa mà họ thấy rằng những sản phẩm và ngành công nghiệp sản xuất này đe doạ đến những ngành công nghiệp của Anh. 


Năm 1699, Anh đưa ra đạo luật về len (Wool Act) cấm việc xuất khẩu những sản phẩm len từ những nước thuộc địa, và đạo luật này đã góp phần giết chết ngành công nghiệp len vốn rất phát triển của Ireland. 


Năm 1700, Anh đưa ra một đạo luật khác cấm nhập khẩu các sản phẩm vải sợi (cotton) chất lượng tốt từ Ấn Độ. Lúc này, ngành công nghiệp vải sợ của Ấn Độ thuộc hàng đầu thế giới. Lệnh cấm đã làm yếu đi ngành công nghiệp này, và sau đó dẫn đến sự sụp đổ của ngành công nghiệp vải sợi trước khi công ty Đông Ấn — công ty đại diện cho Anh cai quản Ấn Độ — chấm dứt sự độc quyền trong thương mại quốc tế vào năm 1813. Vào lúc này, Anh đã có một nền công nghiệp vải sợi ưu việt hơn hẳn Ấn Độ. Hai thế hệ sau, khoảng trước năm 1873, xấp xỉ 40-45% tổng lượng xuất khẩu vải sợi của Anh là sang Ấn Độ. 


Những đòi hỏi về tự do thương mại chỉ bắt đầu đến vào khoảng thời gian trước khi kết thúc các cuộc chiến tranh của Napoleon vào năm 1815. Lúc này những nhà sản xuất công nghiệp của Anh đã tự tin vào khả năng cạnh tranh công nghệ của mình. Họ đã dẫn đầu hầu hết tất cả các lĩnh vực, ngoại trừ một vài lĩnh vực hẹp mà ở đó Bỉ và Thuỵ Sỹ sở hữu những công nghệ vượt trội. 


Tuy vậy, những thay đổi thực sự về thương mại tự do chỉ diễn ra vào khoảng giữa thế kỷ 19. Năm 1846, luật Bắp (Corn Law) được huỷ bỏ và thuế nhập khẩu trên một số mặt hàng được gỡ bỏ. Và năm 1860, hiệp ước thương mại tự do Anh - Pháp được thông qua, hầu hết các thuế quan được bãi bỏ.


Nhưng, thương mại tự do không kéo dài lâu. Đến cuối thế kỷ 19, những nhà sản xuất Anh bắt đầu kêu gọi chính phủ bảo hộ. Đầu thế kỷ 20, việc áp dụng trở lại chính sách bảo hộ là một trong những chủ đề nóng bỏng nhất của chính trường Anh khi họ dần mất đi lợi thế sản xuất so với Mỹ và Đức. Tự do thương mại cuối cùng chấm dứt khi Anh công nhận rằng họ đã đánh mất vị thế sản xuất và áp đặt trở lại thuế hải quan trên diện rộng vào năm 1932.


***


Nhìn lại lịch sử công nghiệp hoá của Anh để thấy rằng những thành tựu công nghiệp có được của họ nhờ ở một quá trình can thiệp liên tục bởi các chính sách của chính quyền. Các chính sách này mang tính kế thừa bởi các chính quyền khác nhau và có khi kéo dài hàng trăm năm. Trong đó, thuế, các thủ tục và luật lệ, những chiến thuật ngoại giao, và việc lùng kiếm nhân tài là những phương cách chính nhằm nuôi dưỡng và bảo hộ những ngành công nghiệp non trẻ. Bảo hộ hay mở cửa tự do thương mại do đó cũng chỉ là một chính sách nhằm bảo đảm sự phồn thịnh của quốc gia. Những trải nghiệm trong quá trình công nghiệp hoá của Anh cũng là những gì mà các nước Đông Á — Nhật, Hàn Quốc, và Đài Loan — đã thực hiện thành công, và có lẽ nó còn là bài học cho nhiều nước đi sau nữa. 


Nguyễn Huy Vũ 

30.1.2021

26.2.21

Bitcoin: Ủng hộ và phản đối

Trong một xã hội, đối với một vấn đề luôn có hai xu hướng: ủng hộ và phản đối. Ngay cả Bitcoin cho đến giờ này cũng khoảng một nửa giới đầu tư là chống. Janet Yellen, đương kim Bộ trưởng Tài chính và là cựu chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ, hôm rồi cũng lên tiếng tỏ ý chống đối và thế là Bitcoin hai hôm nay rớt từ gần 60 ngàn xuống dưới 50 ngàn, tức 25% chỉ trong hai ngày.

Giới đầu cơ thì họ xem Bitcoin như một món hàng và xem nó như là “lâu đài trong không khí” (catsle in the air). Khi mà lâu đài vẫn còn lung linh thì người ta vẫn cứ mơ mộng. Người ta đầu tư vì nghĩ rằng ngày mai nó tăng giá chứ chẳng phải vì có một công thức nào định lượng được giá trị của nó là bao nhiêu. Nếu những công ty công nghệ hàng đầu có tài sản ngàn tỉ đô thì một công ty Bitcoin với công nghệ chuyển khoản phi tập trung cũng có thể có giá như vậy. Và tương tự các công ty trên sàn chứng khoán khi mà các cổ phiếu đại diện cho một phần sự sở hữu của công ty thì các đồng Bitcoin cũng tương tự đại diện cho sự sở hữu của hệ thống Bitcoin. Hệ thống Bitcoin có giá trị là ở chỗ đó. 


LỊCH SỬ BITCOIN


Giữa cuộc khủng hoảng tài chính thế giới cách đây hơn một thập kỷ, vào ngày 31/10/2008, một người có bí danh là Satoshi Nakamoto gửi một tin nhắn qua email với tựa đề là “Bitcoin P2P e-cash paper” (“Bài báo về một loại tiền điện tử thanh toán trực tiếp giữa hai người có tên là Bitcoin”) đến cho một cộng đồng những người nghiên cứu mật mã. Trong tin nhắn này, còn có một đường dẫn đến một bài báo có tên gọi “Bitcoin: A Peer-to-Peer Electronic Cash System” (Bitcoin: Một hệ thống tiền điện tử giữa hai người).


Trong hai bài báo này, Nakamoto đưa ra khái niệm về một loại tiền điện tử phi tập trung (decentralization).  


Với hệ thống tiền tệ từ trước tới nay, để chuyển tiền từ tay một người sang đến một người khác ở xa, người chuyển phải nhờ đến ngân hàng hoặc một tổ chức trung gian đứng ra chuyển giúp. Hệ thống chuyển tiếp tiền tệ này được gọi là hệ thống tập trung, vì tất cả các giao dịch đều đưa về các ngân hàng. Các ngân hàng sau đó kết nối với các hệ thống điều phối của quốc gia để thực hiện các giao dịch. Ở tầm mức quốc tế, các giao dịch chuyển tiền phải thông qua các hệ thống kết nối quốc tế, chẳng hạn hệ thống SWIFT có trụ sở ở Bỉ. 


Với hệ thống tiền điện tử phi tập trung kiểu Bitcoin, người gửi có thể chuyển tiền điện tử trực tiếp đến tài khoản của người nhận ở bất cứ đâu mà không cần thông qua một cơ quan trung gian nào. 


Lợi ích của một hệ thống thanh toán phi tập trung thì có nhiều. Thứ nhất, nó giúp các thanh toán diễn ra rất nhanh, không cần tốn kém xây dựng cơ sở hạ tầng các trung tâm chuyển tiếp giao dịch. Thứ hai, nó tăng tính bảo mật và riêng tư vì chỉ có người gửi và người nhận biết giao dịch, không có bên trung gian. 


Cả hai lợi ích này của hệ thống tiền điện tử phi tập trung đến lượt nó lại trở thành những điều bất cập. Bất cập thứ nhất là vì không có một cơ quan trung gian nắm giữ thông tin người dùng cho nên khi người dùng quên mật khẩu của ví tiền điện tử chứa khoá của tiền Bitcoin đồng nghĩa với việc toàn bộ số tiền không thể nào lấy ra chi tiêu được trừ khi bạn viết khoá xuống giấy lưu trữ trong nhà. Bất cập thứ hai đó là việc giao dịch của hệ thống tiền điện tử phi tập trung giúp tránh được ánh mắt soi mói, dòm ngó của các cơ quan trung gian khác nhau khiến cho tiền mật mã trở thành một phương tiện thanh toán ưa thích của giới làm ăn bất hợp pháp. 


Trở lại câu chuyện lịch sử của Bitcoin. Vào ngày 3/1/2009, lô tiền điện tử Bitcoin đầu tiên được ra đời, và một tuần sau đó, giao dịch thử nghiệm được thực hiện. Trong mấy tháng đầu tiên, những người đào tiền mật mã chỉ thử nghiệm công nghệ chuỗi khối (blockchain) của Bitcoin. Lúc này Bitcoin không có giá trị nào cả. Người ta đào tiền mật mã bằng cách dùng máy tính để giải những bài toán phức tạp để từ đó nhận được những đồng Bitcoin mới. Họ giao dịch với nhau chủ yếu để vui chơi. 


Giao dịch thương mại đầu tiên dùng Bitcoin chỉ diễn ra sau đó một năm khi một người ở Florida đã trả 10.000 Bitcoin để mua hai bánh pizza của tiệm ăn Papa John vốn có giá 25 đô la. Và lúc này, dựa theo giá trị giao dịch thì 4 đồng Bitcoin chỉ có giá trị tương đương 1 cent. 


Vào tháng 2/2011, tức hơn hai năm sau khi ra đời, một đồng Bitcoin giờ đây có giá hơn 1 đô la. Trải qua nhiều thăng trầm lên xuống trong vòng 10 năm kế tiếp, giờ đây một đồng Bitcoin có giá hơn 50 ngàn đô la Mỹ. 


Ngày nay, chẳng mấy ai còn nhắc đến bí danh Satoshi Nakamoto của người sáng lập. Thuyết âm mưu đưa ra các dự đoán khác nhau. Họ cho rằng Bitcoin có thể là một sản phẩm của một nhóm kỹ sư của Google trong một dự án bí mật nào đó, hoặc đó cũng có thể là một dự án của cơ quan tình báo CIA của Hoa Kỳ. 


CÔNG NGHỆ CHUỖI KHỐI (BLOCKCHAIN)


Công nghệ chuỗi khối được đưa ra bởi Stuart Haber và W. Scott Stornetta vào năm 1991. Hai nhà nghiên cứu này muốn áp dụng một hệ thống mà ở đó con dấu thời gian ghi trên các tài liệu không thể sửa đổi được. Đến hai thập niên sau, Bitcoin ra đời bằng cách ứng dụng công nghệ này. 


Công nghệ chuỗi khối trước hết là một dạng công nghệ lưu trữ dữ liệu đặc biệt. Gọi là đặc biệt bởi vì các thông tin được lưu trữ trong các khối và các khối này được xích vào nhau. Trong trường hợp của Bitcoin, công nghệ chuỗi khối được dùng theo cách phi tập trung và nhờ đó mà các thông tin một khi đã ghi vào các khối thì không thể sửa.


Trước khi đi sâu hơn về chi tiết của công nghệ, chúng ta hãy hình dung việc bắt đầu một giao dịch Bitcoin. Khi một giao dịch mới được đưa vào, giao dịch đó được chuyển đến một hệ thống những máy tính của những người dùng Bitcoin khắp thế giới. Hệ thống các máy tính này sẽ giải những phương trình nằm xác nhận giao dịch này. Sau khi xác nhận xong, các giao dịch hợp pháp sẽ được tụm lại và bỏ vào một khối. Các khối này sau đó được móc vào nhau tạo thành một chuỗi dữ liệu về giao dịch bất biến theo thời gian, và lúc này giao dịch kết thúc. 


Với cách lưu trữ thông tin theo công nghệ chuỗi khối phi tập trung của Bitcoin, mỗi một máy tính của người dùng Bitcoin hiện diện ở một vùng khác nhau đóng vai trò lưu giữ dữ liệu trong mạng lưới gọi là nút (node). Trong mỗi nút sẽ chứa đầy đủ các thông tin về các giao dịch. Và vì vậy mà khi một người muốn thay đổi thông tin trong mỗi nút thì hệ thống các nút khác sẽ tham chiếu, chỉ ra lỗi sai thông tin của nút đó và sửa nó. Do đó, các nút không thể tự chỉnh sửa lịch sử thông tin giao dịch. Muốn thay đổi thông tin chứa trong hệ thống hay muốn thay đổi cách hệ thống hoạt động, đòi hỏi phải nhận được đa số sức mạnh tính toán trong hệ thống đồng ý cho một sự thay đổi. Đặc tính này khiến cho hệ thống trở nên an toàn hơn vì khó mà làm thay đổi được một đa số. Việc không thay đổi được thông tin giao dịch cũng giúp các giao dịch trở nên minh bạch hơn vì lịch sử giao dịch sẽ được ghi chép lại. 


Bởi vì đặc tính kỹ thuật khiến lịch sử thông tin không thể thay đổi được này, công nghệ chuỗi khối đang được xem xét sử dụng vào việc bỏ phiếu bầu cử ở các nước dân chủ, hoặc dùng để ghi các hợp đồng. 


YẾU TỐ ĐỊNH HÌNH SỰ TỒN TẠI CỦA BITCOIN


Bitcoin có giá trị không có nghĩa là các đồng tiền khác có giá trị tương đương. Nó cũng giống như Facebook hay Twitter có giá trị vốn hoá thị trường cao nhưng không chắc các mạng xã hội khác có được một giá trị gần như vậy. Vị trí tồn tại và giá trị của Bitcoin do đó là một sự kết hợp của cả hai xu hướng ủng hộ và chống đối. Có một vài yếu tố chính: 


Thứ nhất, số lượng Bitcoin có thể đào được là một con số hữu hạn và không ai thay đổi được. Thuật toán của Bitcoin giới hạn tổng số lượng đồng tiền (coin) có khả năng đào được tối đa là 21 triệu. Hiện nay đã đào được chừng 18 triệu, và như vậy còn khoảng 3 triệu đồng tiền nữa để đào. Nhưng thuật toán được thiết lập cho rằng số lượng đồng tiền sẽ ngày càng khó đào và để đào được 3 triệu đồng còn lại có thể phải mất 100 năm nữa. Nhưng có khi đào nửa chừng thì không ai muốn đào nữa vì có thể chi phí cao quá so với lợi nhuận mang lại trừ khi giá tăng đủ để mang lại lợi nhuận. Thuật toán đào Bitcoin mô phỏng cách những người thợ mỏ đào vàng. Ban đầu người ta khai thác ở những mỏ lộ thiên một cách dễ dàng, nhưng càng về sau thì việc khai thác càng khó khăn hơn, tốn kém hơn vì phải đào sâu xuống. Đối với Bitcoin, để đào được từng đồng Bitcoin thì hệ thống máy tính sẽ chạy theo một thuật toán nhất định, tính toán ra một kết quả và đối chiếu kết quả đó với thông tin hệ thống các đồng Bitcoin sẵn có để xác nhận một đồng Bitcoin mới được ra đời. Việc tính toán đòi hỏi tốn nhiều năng lượng để chạy các máy tính. Hiện nay, mỗi ngày thế giới đào được khoảng 900 đồng Bitcoin mới.


Thứ hai, đứng sau sự chống lưng của Bitcoin còn là hệ thống các tổ chức và các nước chống lại sự độc quyền về kiểm soát tài chính của Mỹ và phương Tây. Bằng cách thực hiện các giao dịch thông qua hệ thống Bitcoin, các tổ chức này tránh được sự theo dõi và trừng phạt của Hoa Kỳ. Các tổ chức này đến lượt nó vận động hành lang cho giới công nghệ và tài chính Hoa Kỳ nhằm hỗ trợ và phổ biến việc thanh toán bằng đồng Bitcoin. 


Thứ ba, chính giới Hoa Kỳ ý thức rõ rằng một khi Bitcoin được dùng phổ biến thì vai trò của đồng đô-la trên trường quốc tế sẽ mờ đi, và một khi đồng đô la mờ đi thì đồng nghĩa với vai trò và ảnh hưởng của Mỹ sẽ dần mất đi. Hãy tưởng tượng cảnh chính giới Hoa Kỳ không thể trừng phạt một nước nào đó bằng cách cấm họ tiếp cận hệ thống ngân hàng thương mại trong khi các đối thủ có thể dễ dàng thực hiện các giao dịch qua hệ thống đồng Bitcoin. Cho nên giới chức chính trị Hoa Kỳ cố gắng ngăn chặn Bitcoin trở thành một công cụ tài chính chính thức. Cho tới nay, chưa có một quỹ chỉ số (ETF) nào về Bitcoin được cấp phép dù cho có các quỹ chỉ số khác nhau về vàng, bạc, dầu hay các mặt hàng khác.


Thứ tư, những người theo chủ nghĩa tự do cũng là một giới đứng sau ủng hộ Bitcoin. Giới theo trường phái tự do phải kể đến các triết gia kinh tế theo trường phái Áo là những người ủng hộ tư tưởng rằng chính phủ đừng nên phát hành tiền mà để các ngân hàng tư nhân phát hành tiền. Tư tưởng này giờ đây được viện Cato, một viện nghiên cứu chính sách (thinktank) theo tư tưởng tự do của Mỹ cổ xuý và đề xướng trong các bản góp ý chính sách cho chính phủ Mỹ. Bạn đọc ban đầu sẽ ngạc nhiên về chuyện để các ngân hàng tự động phát hành tiền, rồi lo sợ nó thành một mớ hỗn loạn. Nhưng hãy hình dung một hoàn cảnh, như Zimbabwe chẳng hạn. Khi kinh tế lạm phát, thị trường lập tức xuất hiện các đồng tiền khác nhau và đồng tiền nào ổn định thì người dân ưa chuộng, và dùng nó. Những đồng tiền khác sẽ tự nhiên bị loại bỏ. Như vậy thị trường sẽ tự động quyết định cái tốt nhất. Đó cũng là trường hợp nếu Bitcoin trở nên phổ biến thì người Mỹ sẽ có hai lựa chọn giữa Bitcoin và đô la chẳng hạn.Và nếu mà họ cảm thấy lo lắng rằng việc in tiền quá nhiều của chính phủ khiến tiền mất giá thì họ cũng có thể chọn Bitcoin làm nơi lưu giữ tài sản của họ, tương tự như vàng.


Lạm phát nước Mỹ tương đối ổn định trong vài thập kỷ qua, nhất là từ sau khi kết thúc chiến tranh Việt Nam. Kinh tế Mỹ và đồng minh tương đối tăng trưởng cùng với việc mở rộng toàn cầu hoá khiến nguồn cung hàng hoá trở nên ổn định, giúp duy trì mức lạm phát trong ngưỡng kiểm soát được. Thêm vào đó là các nghiên cứu và ứng dụng chính sách tiền tệ kiểu mới, trong đó phải kể đến là chính sách định hướng lạm phát (inflation targeting), đã giúp Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ kềm chế mức lạm phát chỉ trong khoảng 2% mỗi năm. Cho nên chuyện đề xuất để các ngân hàng tư nhân phát hành tiền của giới tự do vẫn chỉ là một đề xuất, vì nó không thật sự cần thiết vào lúc này — tại sao phải thay một hệ thống khi ít nhất nó vẫn đang chạy tốt, và trong khi đó còn rất nhiều chuyện khác cần phải làm. Nhưng ít nhất, giới nghiên cứu đã biết rằng ở đó có một khả năng về giải pháp.


CHÍNH SÁCH NÀO CHO VIỆT NAM


Việc Bitcoin tăng giá trong vài tuần qua được một số giới cho rằng đó là do tâm lý lo ngại lạm phát khi chính phủ Mỹ đang in tiền để hỗ trợ nền kinh tế đang khủng hoảng. Thật ra, tâm lý đầu tư vì lo ngại lạm phát nếu có chỉ là một phần nhỏ. Điều mà giới đầu tư dám bỏ tiền nghiêm túc để đầu tư vào Bitcoin khiến giá tăng vọt trong vòng một năm nay nằm ở chỗ họ nhận định rằng các hệ thống tài chính quốc tế bắt đầu trở nên cởi mở hơn với đồng Bitcoin và bắt đầu nhìn nhận nó như một tài sản.


Mới đây, Ngân hàng New York Mellon (Bank of New York Mellon), ngân hàng cổ nhất Hoa Kỳ, vừa tuyên bố rằng họ sẽ chấp nhận Bitcoin như một tài sản ký gửi của khách hàng. Ngân hàng New York Mellon không phải là đơn vị duy nhất bắt đầu hé cánh cửa đối với Bitcoin. Paypal, mạng thanh toán điện tử hàng đầu của Hoa Kỳ đã bắt đầu nhận thực hiện các giao dịch bằng đồng Bitcoin, và Tesla, hãng sản xuất xe điện cũng có kế hoạch nhận các giao dịch bằng đồng tiền mật mã này. Sự hữu dụng hơn kéo theo sự phổ biến hơn của đồng Bitcoin do đó là nguyên nhân chính khiến đồng tiền mật mã này đã tăng phi mã.


Không chỉ có giới tài chính Mỹ bắt đầu mở hé cánh cửa cho Bitcoin. Thuỵ Sỹ và Singapore trong những năm qua đã cố gắng hình thành các thiết chế nhằm mời gọi các dự án về tiền mật mã (cryptocurrency) và cạnh tranh với nhau trong việc trở thành các trung tâm tài chính sáng tạo, cởi mở với tiền mật mã. 


Nếu có một góp ý chính sách cho Việt Nam đó là những nhà làm luật nên hình thành một nhóm chuyên gia đưa ra các tư vấn và đề xuất trên cơ sở tham khảo các chính sách của Singapore và Thuỵ Sỹ để hình thành một bộ khung nhằm hỗ trợ phát triển và giải quyết các tranh chấp liên quan đến tiền mật mã, một loại tài sản mới. Việc hỗ trợ đó không chỉ giúp biến Việt Nam trở thành một trung tâm tài chính ngày càng cởi mở hơn mà nó còn giúp giới công nghệ của Việt Nam học hỏi và nắm bắt những công nghệ quan trọng đằng sau hệ thống tiền mật mã này. 


Nguyễn Huy Vũ

23.2.2021