Các trường đại học hàng đầu thế giới luôn yêu cầu nghiên cứu sinh (PhD candidates) phải thông thạo tiếng Anh vì hiện nay, phần lớn kho tàng kiến thức nhân loại được lưu trữ và phổ biến chủ yếu bằng tiếng Anh. Theo các ước tính gần đây, khoảng 95–98% các bài báo khoa học được xuất bản trên thế giới là bằng tiếng Anh.
12.4.26
6.12.22
Gọi gì cho các cơ sở giáo dục bậc cao
Gần đây, trong nước có các lùm xùm quanh việc chọn đặt tên cho các cơ sở giáo dục bậc cao.
Thực ra thì vấn đề không khó và thế giới đã có rồi. Chúng ta chỉ việc tham khảo.
Dưới đây là những trải nghiệm của tôi.
24.3.18
Tự do biểu đạt trong giới hạn của văn hoá
Nơi đây, trong căn phòng rộng chừng 20 mét vuông, hàng tuần, vào mỗi thứ 3 và 5, những cuộc tranh luận nảy lửa diễn ra giữa một bên là người trình bày và một bên là khán giả. Mọi người được tự do phát biểu và thách thức lập luận cũng như phản bác đối phương. Sau những tranh luận gay gắt đó, tưởng chừng như sẽ không còn muốn gặp nhau nữa thì cuối mỗi buổi seminar, mọi người lại bắt tay nhau, cùng góp ý và trao đổi, coi như ta chưa hề có cuộc cãi nhau (gọi là cãi nhau thì đúng hơn là một cuộc tranh luận, bởi vì không khí đôi khi quá gay gắt).
Ở Stockholm, tuần nào mình cũng ghé để nghe mấy ổng rồi thỉnh thoảng cũng tự do hỏi han, góp ý. Riết rồi quen văn hoá đó.
11.6.17
Chuyện đào tạo tiến sỹ ở Nauy
![]() |
| Hình chụp tại một buổi lễ bảo vệ luận án tiến sỹ kinh tế tại trường Đại học BI Norwegian Business School ở Nauy. Một thành viên hội đồng phản biện đã tham dự phản biện qua Skype. Hình của tác giả. |
Chỉ số thịnh vượng được tính toán và xếp hạng mức độ thịnh vượng của các quốc gia dựa vào các tiêu chí khác nhau bao gồm sự giàu có, mức tăng trưởng kinh tế, giáo dục, sức khỏe, phúc lợi, và chất lượng cuộc sống. Trong bảng xếp hạng năm 2016, Nauy đứng thứ hai, Phần Lan đứng thứ ba, Thụy Điển và Đan Mạch lần lượt đứng đứng tám và thứ chín, tiếp theo sau đó là Anh và Đức. Hoa Kỳ đứng thứ 17.
20.5.17
Phát triển ngôn ngữ
![]() |
Mẹo đọc sách
1.4.17
Học viết
Có nhiều cách viết khác nhau, giống như vẽ một bức tranh thường có nhiều trường phái. Có những cách viết đơn giản, mộc mạc, đi thẳng vào vấn đề; cũng có cách viết dẫn dắt bạn đọc đi loanh quanh vào những con đường đầy hương và hoa để độc giả cảm nhận được sự sung sướng của việc đọc trước khi dẫn họ tới đích.
30.11.16
Thầy Dũng
Ngày trước khi đi thi đại học, đang đứng ở hành lang, ông đi tới, hỏi: "Ông đăng ký thi ngành gì?". Mình bảo: "Ngành Vật lý, Khoa học Tự nhiên." Ổng bảo, "Ông học ngành đó sau này lấy tiền đâu đi nghiên cứu thêm?". Mình nghe ổng, rồi im không trả lời, vì lúc đó mình đã dự tính trong đầu là đi kiếm học bổng du học rồi, đăng ký thi đại học chỉ là tạm thời. Thầy mình tên Dũng, dạy trường chuyên Lê Quý Đôn, Nha Trang.
Oslo. 20.11.2016
24.9.16
Tiếng Anh của Singapore và Bài học cho Việt Nam
![]() |
| Một góc trường Đại học Kỹ thuật Nanyang |
Singapore là một ví dụ để cho thấy rằng sự chọn lựa trong chính sách của người lãnh đạo không những làm thay đổi văn hóa và suy nghĩ của một lớp người mà còn ảnh hưởng đến vận mệnh và tương lai của một quốc gia, dân tộc.
27.3.16
Du học, về hay ở?
![]() |
| Chim về đón xuân. Nguồn: Internet. |
15.2.14
Chuyện thi cử VN và Nauy
18.8.12
Giáo dục: cứu cánh cho nền kinh tế Việt Nam
- Tăng mức lương cơ bản
- Rà soát và cải tạo các chương trình đào tạo tiến sỹ
- Lọc chất lượng giảng viên
- Sửa lại chính sách cấp học bổng đào tạo tiến sỹ
- Sắp xếp lại ban quản trị trường đại học
- Đào tạo kỹ năng học suốt đời
14.4.12
Nghiên cứu ở Việt Nam
Hồi còn ở VN, lúc còn học ở trường Khoa Học Tự Nhiên, Tp. Hồ Chí Minh, có hội thi thả trứng không bể. Thả quả trứng từ tầng 4 của tòa nhà sao cho quả trứng không bể. Quả trứng bị bể coi như thua. Suy nghĩ cách nào thả quả trứng mà không bể. Một chiều đi học về lang thang, suy nghĩ, chợt thấy trái dầu bay từ từ xoay tít trong gió nhờ 2 chiếc lá như cánh quạt giảm tốc độ. Về nhà làm một một khung bằng thép nhỏ, có 2 cánh quạt chăng bằng bọc nylon, đo cánh mọi thứ, rồi bỏ quả trứng vào, thả thử, trứng không bể. Yên tâm đi thi. Ngày thi, thấy các "cao thủ" rất đông. Sử dụng đủ các "chiêu thức". Kẻ thì làm mô hình trái bóng bằng nước, trong để quả trứng bên trong. Người thì dùng "tên lửa" bên trong để quả trứng. 1, 2, 3 từ từ thả mô hình. Thả từ tầng 4 xuống và đứng quan sát. Trứng vỡ hết. Riêng mô hình của tôi hình quả dầu với 2 cánh bay nhẹ nhẹ, chầm chậm xuống, tiếp đất an toàn và quả trứng không bể. Thắng giải nhất, được đâu 100 ngàn. Dẫn mấy đứa bạn đi ăn kem. Hết. Đối với nhiều người lúc bấy giờ, nghiên cứu hay phát triển ở VN là một cái gì đó kiểu ... vui chơi. Thừa tiền, rỗi sức. Bởi suy nghĩ đơn giản là nghiên cứu không tạo ra tiền. Họ có thể suy nghĩ và thầm khâm phục người phương Tây về khả năng và sự đam mê nghiên cứu, nhưng đối với họ nghiên cứu là một cái gì rất cao xa và ... không cần thiết, nhất là ở VN. Mua công nghệ về làm, mua bộ phận về lắp ráp, hoặc mua hàng hóa đã làm sẵn (từ Trung Quốc, Hàn Quốc, hoặc vài nước khác) về bán dễ sinh lợi hơn.
Mười năm sau về lại. Tôi vẫn chưa thấy sự thay đổi trong suy nghĩ của nhiều người ở VN. Ở ngay chính những người đã tốt nghiệp ra trường đại học và đi làm. Nghiên cứu không cần thiết, nghiên cứu một cách cơ bản, sâu sắc lại càng không; và người châu Âu cái gì cũng thích nghiên cứu. Đúng.
Hàng ngày chúng ta xem những kênh Geographic Channel, mới khâm phục lòng kiên trì và đam mê nghiên cứu của họ. Họ có thể dành 30 năm chỉ để nghiên cứu con tàu Titanic tại sao bị chìm và chìm như thế nào. Mà đôi khi chúng ta chỉ mất 30 phút để xem kết luận của họ. Họ dành cả cuộc đời chỉ để nghiên cứu chất phóng xạ, mà cuối cùng chúng ta chỉ có thể học nó mất 10 phút với 2 dòng công thức. Và còn nhiều nhiều nữa những ví dụ xung quanh. Nếu không có những nghiên cứu như vậy, sự hiểu biết của xã hội chỉ có thể bước những bước rất ngắn. Gần hơn, nếu không có những nghiên cứu đàng hoàng về công nghệ mobiphone thì Việt Nam cũng chỉ dừng lại là một nước tiêu dùng.
Khi mà những lực lượng làm công việc trí óc có thể tạm gọi là tấng lớp ưu tú của xã hội còn nghĩ rằng nghiên cứu và phát triển là những thứ xa xỉ của Việt Nam. Thì mãi mãi Việt Nam chỉ có thể dừng chân là một nơi lắp ráp và là nhà máy sản xuất các bộ phận giản đơn của nhân loại.
Một điều ngạc nhiên nữa khi về Việt Nam, đó là sinh viên ngành ngân hàng không được học gì về kinh tế vi mô và vĩ mô một cách nghiêm túc. Kinh tế lượng (econometrics) lại càng không. Có cảm giác là những sinh viên ngành ngân hàng chỉ được đào tạo nghiệp vụ thực hiện các giao dịch cơ bản của ngân hàng thay vì là một chuyên viên kinh tế tài chính một cách nghiêm túc. Một ví dụ về cách ăn xổi ở thì của giáo dục.
Dĩ nhiên, nghiên cứu đòi hỏi những kinh phí rất lớn mà chỉ có nhà nước thông qua các viện và trường đại học hoặc những công ty lớn có thể đảm đương nổi. Nhưng trước hết đó là sự thay đổi tư duy và triết lý phát triển của toàn xã hội, bắt đầu bởi những nhóm người được gọi là có học thức nhất của xã hội. Cũng giống như một người đi đường đang cầm bản đồ, anh ta phải quyết định một hướng đi rõ ràng trước khi bắt đầu một cuộc hành trình dài và khó khăn. Hoặc là anh ta đến đích thành công hoặc là anh ta chỉ lẩn quẩn xung quanh.
3.2.10
Các Nguyên Tắc Nhằm Xây Dựng Thành Công Một Viện Nghiên Cứu: Mười Điều Răn

Assar Lindbeck
cựu giám đốc viện nghiên cứu kinh tế kinh tế thế giới (The Institute for International Economic Studies, IIES), Đại học Stockholm.
Nguyễn Huy Vũ dịch
(bản gốc: “Principles for Successful Research: Ten Commandments")
2. Để đạt được những tham vọng đó, điều quan trọng là phải công bố (các công trình nghiên cứu) trên bình diện quốc tế, đặc biệt là tại các tạp chí học thuật danh tiếng; từ đó, nghiên cứu được đánh giá bởi cộng đồng nghiên cứu thế giới. Bằng không thì có một nguy cơ rất lớn rằng tham vọng của các nghiên cứu viên chỉ gói gọn ở ảnh hưởng nội địa – vốn thấp hơn. Các lãnh đạo của một viện nghiên cứu rất khó mà ngăn các nghiên cứu tầm thường công bố nếu viện có một cơ quan xuất bản riêng. Chính vì lẽ đó mà IIES không có các cơ quan xuất bản riêng.
3. Sự có mặt của những nghiên cứu viên khách mời hàng đầu tại viện nghiên cứu rất quan trọng; việc này nhằm nhập thụ kiến thức và giúp tăng cường nỗ lực vươn lên bình diện quốc tế của Viện. Trong suốt thập niên 1970s khi chúng tôi chỉ thuần túy là một viện giảng dạy - nghiên cứu, một số những nghiên cứu viên viếng thăm thường ghé lại khoảng từ 6 tháng hoặc thậm chí một năm đóng vai trò cực kì quan trọng cho việc nâng cấp từ từ năng lực của chúng tôi. Ngày nay, khi mà Viện đã có 7 giáo sư (full professor) (khi so với một giáo sư trước năm 1984), tầm quan trọng của việc có những nghiên cứu viên khách mời ghé lại với những khoảng thời gian dài về mặt nào đó ít hơn.
4. Mỗi nghiên cứu viên tại những viện nghiên cứu có tiếng có xu hướng tự phát triển các liên kết nghiên cứu trên bình diện quốc tế cho riêng mình. Các chính trị gia và các nhà quản lý đại học thường tin rằng các mạng lưới nghiên cứu nên được tổ chức, chẳng hạn bằng các thỏa thuận và hợp đồng giữa các viện với nhau. Cách này, theo ý kiến của tôi, là một hướng tiếp cận sai. Các nghiên cứu viên khác nhau cần có các mối hợp tác quốc tế ở những nơi khác nhau trên thế giới, và các thỏa thuận chính thức giữa các đại học thường không hữu dụng trong việc tạo ra những liên kết này. Những hợp tác như vậy ,thay vào đó, có thể khởi động bằng một chuyến viếng thăm của một nghiên cứu viên nước ngoài, hoặc bởi một nghiên cứu viên đến một viện nghiên cứu ở nước ngoài. Những liên kết mang tính quốc tế thành công phản ánh thông qua mối quan hệ tương tác cá nhân khắng khít và ở những bài báo viết chung, thay vì giữa những thỏa thuận chính thức giữa các viện. Tham gia trong những dự án nghiên cứu và hội thảo tầm thế giới, cùng với việc tổ chức các hoạt động như vậy, là một cách khác để tham gia vào những mạng lưới kể trên. Hỗ trợ tài chính cho những hoạt động loại này là cách tốt nhất đối với các chính trị gia và các nhà quản lý giáo dục nhằm kích thích việc hợp tác nghiên cứu ở tầm thế giới.
5. Một điều quan trọng khác là nên tập trung các nguồn lực vào một số giới hạn các lĩnh vực nghiên cứu. Trong suốt 10 năm đầu, IIES tập trung chỉ vào một lĩnh vực duy nhất: lý thuyết kinh tế vĩ mô và chính sách kinh tế cho các nền kinh tế mở. Việc chọn một đề tài như vậy chủ yếu dựa vào khả năng làm mẫu (power of example). Điều này xảy ra khi tôi và một vài sinh viên đến Viện vào những năm đầu thập niên 1970 đặc biệt quan tâm đến lĩnh vực này; những nghiên cứu viên khác cùng quan tâm đến lĩnh vực này gia nhập Viện, và một sự điều phối các hoạt động nghiên cứu diễn ra như có một bàn tay vô hình thay vì bởi một kế hoạch rõ ràng. Sau đó, Viện đã lần lượt mở rộng tầm nghiên cứu tới một vài lĩnh vực mới, chẳng hạn như mậu dịch thế giới, kinh tế lao động, tổ chức công nghiệp, kinh tế phát triển, và tài chính thế giới, khi mà số nhân viên nghiên cứu gia tăng.
6. Nghiên cứu thành công cũng đòi hỏi khả năng có được một tiềm lực quyết định trong một hoặc vài lĩnh vực. Từ kinh nghiêm của tôi, điều này đòi hòi ít nhất nửa tá người trong mỗi lĩnh vực. Tiềm lực quyết định được định nghĩa, về mặt hoạt động, như là trường hợp khi mà có một xác suất lớn rằng một vài nghiên cứu viên tại Viện thật sự cảm thấy thích thú khi đọc những bản sơ thảo nghiên cứu của nhau. Các buổi thuyết trình cũng trở nên thú vị hơn nếu ít nhất ba hoặc bốn người cùng quan tâm đến cùng một lĩnh vực. Tần số hợp tác nghiên cứu giữa những nghiên cứu viên tại Viện là một chỉ số cho thấy một mức độ tương tác lớn đã đạt được hay chưa và do đó, có hay không một tiềm lực quyết định thật sự tồn tại. Từ cái nhìn đó, tín hiệu rất khích lệ khi mà nhiều thành quả nghiên cứu của Viện ngày nay bao gồm những công trình nghiên cứu viết chung. Sự hòa hợp giữa các thế hệ nghiên cứu – các nghiên cứu viên giàu kinh nghiêm (các giáo sư), nghiên cứu sinh sau Tiến sỹ, và nghiên cứu sinh - cũng rất hữu ích.
7. Một tương tác mạnh giữa nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu phương pháp luận, ở một mặt, và nghiên cứu ứng dụng, ở một mặt khác, là một yếu tố quan trọng cho sự thành công trong nghiên cứu. Viện chúng tôi lúc đầu thường bị chỉ trích ở Thụy Điển vì đã nhấn mạnh đến lý thuyết quá nhiều. “Việc chẳng ăn nhập gì” hay “nghiên cứu rỗi hơi” là những từ trỏ về chúng tôi từ một vị hiệu trưởng danh dự của một viện giáo dục Thụy Điển thiên về ứng dụng. Tuy nhiên, tầm quan trọng của một nền tảng đào tạo vững chắc về lý thuyết và phương pháp luận đã là một yếu tố chính nằm sau những đóng góp của Viện trong nghiên cứu ứng dụng. Không có một nền tảng lý thuyết và phương pháp luận vững chắc, nghiên cứu ứng dụng thường là tầm thường hoặc kém, và giảm chất lượng theo thời gian. Đôi khi, ngược lại, những nghiên cứu viên ứng dụng cho ra những kết quả khảo nghiệm quan trọng và đòi hỏi những nghiên cứu viên lý thuyết kiểm nghiệm lại tính liên quan về mặt thực nghiệm của những lý thuyết họ đã đưa ra.
8. Tuyển dụng là quyết định hành chính quan trọng nhất tại những viện nghiên cứu. Nếu việc tuyển dụng được thực hiện tốt, người giám đốc có thể tập trung vào công việc chính của mình – tạo ra một bầu không khí nhiệt tình (enthusiasm). (Đôi khi, ông cũng nên, dĩ nhiên, đề nghị những nghiên cứu viên đã mất đi sự tích cực nên chuyển sang những nơi khác.).Để duy trì việc quản trị hành chính ở mức thấp nhất, cần để mỗi người tự quản và phân phối những nhiệm vụ hành chính chung đến những thành viên khác nhau trong Viện. Nghiên cứu chất lượng cao đòi hỏi mỗi cá nhân được quyền tự chọn lĩnh vực và đề tài. Mệnh lệnh và những hệ thống cấp bậc không phù hợp với một môi trường nghiên cứu sáng tạo, nơi mà mỗi người là chủ của chính mình. Một điều quan trọng nữa là việc có những thư kí và phụ tá nghiên cứu giỏi – một điều mà Viện chúng tôi luôn nhấn mạnh. Ít nhất thì các vị khách nước ngoài hài lòng với những dịch vụ cơ bản của Viện.
9. Một viện nghiên cứu sẽ nhận được một thuận lợi lớn nếu nó là một phần của một trường đại học tốt. Điều này cho phép các khoa và ngành khác của trường đại học đóng góp vào những xung lực trí thức mới. Nó cũng cho phép có được một sự tương tác giữa nghiên cứu và giáo dục - vốn kích thích cả nghiên cứu viên và sinh viên. Những thành viên của IIES trong những năm gần đây đã tăng cường tham gia giảng dạy ở tất cả các cấp bậc của khoa Kinh Tế (trường Đại Học Stockholm). Chúng tôi cũng đã cố gắng thuyết phục các đồng nghiệp của chúng tôi trong các khoa khác về tầm quan trọng của việc những giáo sư, chính mình, tham gia giảng dạy cả ở những cấp bậc đại học và cao học.
10. Cuối cùng, một viện nghiên cứu cho ra những bài báo và cuốn sách không chỉ dành riêng cho cộng đồng nghiên cứu thế giới, mà còn cho quảng đại quần chúng quan tâm đến các vấn đề kinh tế. Điều này, thật ra, là một cách mà một viện nghiên cứu, vốn hoạt động nhờ tiền thuế, có thể trả ngược lại cho những người đóng thuế theo một cách khá trực tiếp và dễ nhận thấy. Những thành viên của Viện đã làm như thế - đưa ra các phân tích cho những vấn đề cả về các chính sách kinh tế cho Thụy Điển và kinh tế toàn cầu đương đại. Kinh nghiệm cho thấy rằng có thể làm được những đóng góp như vậy mà không lấy bớt đi nhiều thời gian dành cho nghiên cứu hàn lâm chừng nào mà các hoạt động này được duy trì như một lĩnh vực “tay trái”. Thực ra, việc theo dõi sát các thảo luận về các vấn đề chính sách kinh tế giúp các nghiên cứu viên tìm ra các đề tài phù hợp cho các nghiên cứu hàn lâm.
Stockholm, 03.02.2010
NHV
1.11.08
Tìm hiểu về Du Học
Để đạt được một mục tiêu, chúng ta ai cũng bắt đầu bằng ba bước:
- Chúng ta muốn gì ?
- Chúng ta đang có gì ?
- Và, chúng ta cần làm gì (để đạt được mục tiêu)?
Ở đây,
- Chúng ta muốn đi du học.
- Chúng ta đã có gì rồi ? Một tấm bằng loại khá trở lên ? Một chứng chỉ ngoại ngữ quốc tế ? Có thông tin về trường hoặc nước chúng ta muốn học chưa ?
- Chúng ta cần làm gì ? Nếu chúng ta có các điểm chính cơ bản trên, chúng ta chỉ việc nộp đơn và đợi. Xong. Tuy nhiên, nếu chưa có một trong các điều trên thì ta phải tìm kiếm, và công cụ quan trọng và hữu dụng nhất là internet.
Để tìm kiếm thông tin trên internet hiệu quả, bạn phải làm quen với việc dùng chương trình www.google.com để tìm kiếm thông tin một cách thành thạo và một khả năng ngoại ngữ tương đối tốt để lọc thông tin.
Thông thường, khi bắt đầu muốn du học, bạn chỉ có duy nhất một niềm tin. Tất cả các thông tin khác hầu như chỉ là con số không hoặc chỉ một ít, có được từ bạn bè hoặc người thân truyền lại, nhiều khi không chính xác.
Để bắt đầu, bạn phải định hướng trước bạn muốn chọn ngôn ngữ nào và nước nào cho khóa học của bạn. Sau đó, bạn tìm danh sách các trang web của các trường đại học, cao đẳng của nước đó, vào từng trang web của từng trường một, tìm khóa học của bạn, nếu ưng ý, nên tìm xem có các chương trình học bổng hỗ trợ cho các khóa học đó không, sau đó thì xem tiếp các điều kiện để nộp đơn cho khóa học, và thời hạn nộp đơn. Việc còn lại là bạn chuẩn bị hồ sơ theo các điều kiện, nộp đơn trước thời hạn và chú ý gửi đơn bảo đảm để tránh thất lạc.
Một trang web chuyên lưu trữ danh sách các trường đại học trên thế giới là: http://www.webometrics.info/
Một số kinh nghiệm là các ở các nước châu Âu thường cung cấp khá nhiều học bổng cho học sinh các nước đang phát triển, hoặc chỉ thu học phí với mức tượng trương. Một số nước như Phần Lan, Nauy, Đan Mạch, Thụy Điển có các chương trình giảng dạy bằng tiếng Anh cho cấp bậc đại học và sau đại học. Riêng học phí giáo dục tại Phần Lan, Nauy, Thụy Điển thì được miễn kể cả cho sinh viên quốc tế. Đan Mạch tuy không miễn học phí cho sinh viên quốc tế nhưng có các chương trình học bổng. Việc đi làm thêm cuối tuần có thể giúp bạn trang trải được cuộc sống.
Ở Á Châu, trong vòng vài năm gần đây, Singapore nổi lên như một địa điểm thu hút các sinh viên Việt Nam qua học. Hàng năm, hai trường đại học Nanyang Technological University và National University of Singapore thường tổ chức thi tuyển sinh viên tại Việt Nam. Sinh viên đậu được kì thi sẽ được cho vay (học phí và tiền ăn ở) để học hết khóa học, các sinh viên nổi bật trong kì thi sẽ được nhận học bổng. Để biết thêm chi tiết các bạn có thể tham khảo trên trang web của các trường trên.
Ngoài Nhật Bản, Úc, New Zealand, các nước như Hàn Quốc, Ấn Độ, Đài Loan, Trung Quốc cũng ngày càng thu hút thêm nhiều du học sinh Việt Nam.
Điều quan trọng đối với mỗi người là THỜI GIAN. Thời gian gắn liến với cơ hội. Cơ hội được đi học năm nay khác với cơ hội được đi học năm sau và thường đi càng sớm thì càng tốt, vì các trường nước ngoài thường bắt sinh viên phải học lại nếu bạn đang học dang dở đại học.
Lã Bất Vi làm thầy giáo cho Tần Thủy Hoàng lúc còn là một thiếu niên. Tần Thủy Hoàng nhiều lần thất bại khi đấu vật với một đối thủ và đâm sinh ra nản. Lã Bất Vi có một câu nói dạy cho Tần Thủy Hoàng: “con người hơn nhau là ý chí”. Tần Thủy Hoàng ngày đêm ràn luyện, cố gắng vận dụng mọi chiêu thức, kể cả chơi xấu để cuối cùng thắng được đối thủ của mình. Kể câu chuyện Tàu trên đây không phải bởi vì tôi “ngưỡng mộ” hai nhân vật lịch sử bên Tàu mà bởi vì câu nói trên của Lã Bất Vi rất đúng. “Con người hơn nhau là ý chí”, nếu bạn không có ý chí kiên cường quyết tâm đi du học thì vận may cũng khó đến.





