Showing posts with label giáo dục. Show all posts
Showing posts with label giáo dục. Show all posts

12.4.26

Tiếng Anh và lãnh đạo

Các trường đại học hàng đầu thế giới luôn yêu cầu nghiên cứu sinh (PhD candidates) phải thông thạo tiếng Anh vì hiện nay, phần lớn kho tàng kiến thức nhân loại được lưu trữ và phổ biến chủ yếu bằng tiếng Anh. Theo các ước tính gần đây, khoảng 95–98% các bài báo khoa học được xuất bản trên thế giới là bằng tiếng Anh. 

6.12.22

Gọi gì cho các cơ sở giáo dục bậc cao

Gần đây, trong nước có các lùm xùm quanh việc chọn đặt tên cho các cơ sở giáo dục bậc cao. 

Thực ra thì vấn đề không khó và thế giới đã có rồi. Chúng ta chỉ việc tham khảo. 


Dưới đây là những trải nghiệm của tôi. 


24.3.18

Tự do biểu đạt trong giới hạn của văn hoá

Institute for International Economic Studies (IIES) là một viện nghiên cứu kinh tế có thể nói là uy tín nhất Thuỵ Điển và Bắc Âu. Ở châu Âu, IIES cùng với London School of Economics (LSE) ở Luân Đôn và Universitat Pompeu Fabra (UPF) ở Barcelona có thể nói là ba trung tâm đào tạo và nghiên cứu kinh tế hàng đầu. Một nửa số thành viên của uỷ ban trao giải Nobel về kinh tế để tưởng nhớ Nobel làm việc ở IIES.

Nơi đây, trong căn phòng rộng chừng 20 mét vuông, hàng tuần, vào mỗi thứ 3 và 5, những cuộc tranh luận nảy lửa diễn ra giữa một bên là người trình bày và một bên là khán giả. Mọi người được tự do phát biểu và thách thức lập luận cũng như phản bác đối phương. Sau những tranh luận gay gắt đó, tưởng chừng như sẽ không còn muốn gặp nhau nữa thì cuối mỗi buổi seminar, mọi người lại bắt tay nhau, cùng góp ý và trao đổi, coi như ta chưa hề có cuộc cãi nhau (gọi là cãi nhau thì đúng hơn là một cuộc tranh luận, bởi vì không khí đôi khi quá gay gắt).

Ở Stockholm, tuần nào mình cũng ghé để nghe mấy ổng rồi thỉnh thoảng cũng tự do hỏi han, góp ý. Riết rồi quen văn hoá đó.

11.6.17

Chuyện đào tạo tiến sỹ ở Nauy

Trong danh sách chỉ số thịnh vượng của quốc gia (The Legatum Prosperity Index) được công bố bởi Viện Legatum, một viện nghiên cứu chính sách toàn cầu có trụ sở tại Anh, các quốc gia Bắc Âu đều nằm trong số những nước thịnh vượng nhất. 

Hình chụp tại một buổi lễ bảo vệ luận án tiến sỹ kinh tế tại trường Đại học BI Norwegian Business School ở Nauy.
Một thành viên hội đồng phản biện đã tham dự phản biện qua Skype. Hình của tác giả.

                                   
Chỉ số thịnh vượng được tính toán và xếp hạng mức độ thịnh vượng của các quốc gia dựa vào các tiêu chí khác nhau bao gồm sự giàu có, mức tăng trưởng kinh tế, giáo dục, sức khỏe, phúc lợi, và chất lượng cuộc sống. Trong bảng xếp hạng năm 2016, Nauy đứng thứ hai, Phần Lan đứng thứ ba, Thụy Điển và Đan Mạch lần lượt đứng đứng tám và thứ chín, tiếp theo sau đó là Anh và Đức. Hoa Kỳ đứng thứ 17.

20.5.17

Phát triển ngôn ngữ

Ngày 15 tháng 4 năm 1865 tại Sài Gòn, tờ báo tiếng Việt đầu tiên của Việt Nam, tờ Gia Định báo, chủ trương bởi Petrus Trương Vĩnh Ký, lần đầu tiên được ra đời ở miền Nam, đánh dấu sự phổ biến chính thức của tiếng Việt trong đời sống thông tin truyền thông hiện đại. So với nhiều ngôn ngữ khác vốn có chữ viết từ rất lâu, tới hàng ngàn năm, chữ Quốc ngữ có một lịch sử rất non trẻ. Trong suốt một thời gian dài, để gửi đi những thông điệp, người Việt mượn chữ của tiếng Hoa, và sau đó sáng tạo ra chữ Nôm. Tuy vậy, cả hai thứ tiếng này thường chỉ phổ biến trong một giới nhỏ những quan lại và giới học sỹ. Phần đông những người bình dân chẳng thạo và do đó không thể lưu truyền được gì đáng kể lại cho hậu thế. Sự thiếu vắng một hệ thống chữ viết phổ biến để lại nhiều hệ quả lâu dài cho người Việt.


                                 
Bất cứ một sự phát triển nào cũng dựa trên nền tảng kế thừa. Những kiến thức của thế hệ đi trước được ghi chép, truyền lại cho những thế hệ sau. Những thế hệ sau kế thừa những thành tựu của thế hệ trước rồi khai triển, phát kiến ra những điều mới. Việc thiếu một hệ thống chữ viết khiến cho những kiến thức trong dân gian đa phần chỉ dừng lại ở mức độ truyền miệng, và một khi truyền miệng thì những kiến thức đó thường chỉ ở mức độ đơn giản. Vì lý do đó mà những người Việt hôm nay, một cách thành thật, nhìn lại ngược dòng lịch sử để thấy rằng các sáng tác và khảo cứu của người Việt chúng ta rất nghèo nàn, từ khoa học kỹ thuật cho đến văn chương hầu như chẳng có bao nhiêu. Tất cả chỉ có những sáng tác văn hóa truyền miệng với ca dao, tục ngữ và vài tác phẩm đếm trên đầu ngón tay trong đó có Truyện Kiều của Nguyễn Du viết bằng chữ Nôm được nhiều người nhắc đến. Nhưng hãy suy nghĩ thật lòng rằng liệu một dân tộc tự hào có đến 4000 năm văn hiến nhưng di sản chỉ vỏn vẹn có vài tác phẩm sơ sài đếm trên đầu ngón tay như thế thì liệu có được gọi là quá nghèo nàn về văn hóa lắm không?

Mẹo đọc sách

Thỉnh thoảng có vài bạn hỏi mình làm sao để đọc sách cho nhanh, khi mà nhìn thấy cuốn sách thì dầy cộm? Một số bạn khác khi thấy bài báo quá dài thì bỗng trở nên … lười đọc, phần sợ tốn quá nhiều thời gian thì ít, mà phần thấy nó dài quá … nên nản thì nhiều.

                    


Vậy làm sao có thể đọc sách nhanh mà vẫn có thể thưởng thức cuốn sách hay bài báo, thay vì cảm thấy bị tra tấn vì nó quá dài? Dưới đây là vài kinh nghiệm của mình.

1.4.17

Học viết

Người mình xưa có câu: «Học ăn, học nói, học gói, học mở,» ý là cái gì cũng cần phải học. Học viết cũng vậy, mà học viết càng cần phải rèn giũa nhiều hơn, vì viết thường dùng để chuyển tải nhiều ý hơn để người khác còn đọc lại. 




Có nhiều cách viết khác nhau, giống như vẽ một bức tranh thường có nhiều trường phái. Có những cách viết đơn giản, mộc mạc, đi thẳng vào vấn đề; cũng có cách viết dẫn dắt bạn đọc đi loanh quanh vào những con đường đầy hương và hoa để độc giả cảm nhận được sự sung sướng của việc đọc trước khi dẫn họ tới đích.

30.11.16

Thầy Dũng

Đó là một buổi chiều học thêm Hóa năm lớp 11. Lớp rất đông, giữa giờ dạy ông thầy tới bàn, gõ cục phấn, bảo: "Cuối giờ ông lên đây gặp tui." Ngồi học mà nghĩ bụng tí nữa ông định quở mình chắc vì bữa trước nghỉ học. Học xong, lên gặp. Ông lấy cây viết, kêu chỉ tên. Ông nhớ mặt mình nhưng có lẽ không nhớ họ tên đầy đủ. Chỉ tên cho ông, ông cầm cây viết gạch băng ngang cái tên. Mình hoảng, tưởng ổng đuổi học. Xong, ổng bảo: "Từ rày về sau ông không phải đóng học phí nữa." Xong, ông hỏi tiếp: "Ông biết nhà thằng nào khó khăn nữa không?" Mình bảo: "Thằng Nam". Ông lấy viết gạch luôn tên thằng Nam.

Ngày trước khi đi thi đại học, đang đứng ở hành lang, ông đi tới, hỏi: "Ông đăng ký thi ngành gì?". Mình bảo: "Ngành Vật lý, Khoa học Tự nhiên." Ổng bảo, "Ông học ngành đó sau này lấy tiền đâu đi nghiên cứu thêm?". Mình nghe ổng, rồi im không trả lời, vì lúc đó mình đã dự tính trong đầu là đi kiếm học bổng du học rồi, đăng ký thi đại học chỉ là tạm thời. Thầy mình tên Dũng, dạy trường chuyên Lê Quý Đôn, Nha Trang.

Oslo. 20.11.2016

24.9.16

Tiếng Anh của Singapore và Bài học cho Việt Nam

Sinh thời, trong một lần được phỏng vấn, khi được hỏi ông đã mang lại điều gì cho những người dân Singapore, cựu thủ tướng Lý Quang Diệu không nghĩ mà đáp rằng «tôi cho họ được học hành». Và nếu có dịp phỏng vấn những người đứng dưới mưa, xếp thành hàng dài tiễn ông đi ngày ông mất, chắc hẳn sẽ nhận được câu trả lời tương tự, thậm chí còn hơn.


Một góc trường Đại học Kỹ thuật Nanyang

Singapore là một ví dụ để cho thấy rằng sự chọn lựa trong chính sách của người lãnh đạo không những làm thay đổi văn hóa và suy nghĩ của một lớp người mà còn ảnh hưởng đến vận mệnh và tương lai của một quốc gia, dân tộc.

27.3.16

Du học, về hay ở?

Du học, rồi trở về hay ở lại, đó là một quyết định cá nhân; một quyết định mà phương trình có nhiều tham số trong đó lòng yêu nước chỉ là một. Nhưng nếu hỏi một du học sinh Việt chọn cách ở lại rằng họ có yêu nước không, nhiều phần chắc chắn là có. 

Họ, cũng như nhiều người Việt khác, đều mong mỏi đất nước ngày càng phát triển, để có cái mà tự hào khi giới thiệu với chúng bạn nước ngoài tôi là người Việt, và để mỗi lần đi ngang những cửa khẩu hải quan cầm trên tay cuốn hộ chiếu Việt Nam không còn bị hải quan nước ngoài soi mói, vặn vẹo đi đâu và làm gì. Họ, những du học sinh Việt chọn cách ở lại, đều đặn liên lạc với gia đình và bà con, gửi tiền và quà về chăm sóc bố mẹ, người thân. Và nếu định nghĩa rằng tình yêu nước giản đơn là tình yêu quê hương, chòm xóm, yêu gia đình, ông bà, cha mẹ, thì hẳn những du học sinh chọn cách ở lại có tình yêu quê hương không kém gì những bạn chọn cách quay về. 
Chim về đón xuân. Nguồn: Internet.

Có một câu hỏi lớn hơn là làm sao đất nước tận dụng được năng lực của những du học sinh cho công cuộc phát triển đất nước, thay vì phán xét ở hành động ở hay về của họ. Tôi muốn kể bạn vài câu chuyện.

Câu chuyện về sự thành công của ngành công nghiệp điện tử Hàn Quốc. Cho đến cuối những năm 70s của thế kỉ trước, các công ty điện tử của Hàn Quốc đa phần chỉ là những công ty lắp ráp hợp tác với vài công ty của Nhật. Một ví dụ là ở ngành sản xuất ti-vi màu bắt đầu từ năm 1974. Nó lúc đầu là hợp tác giữa công ty Matsushita Electric Co., Ltd và một công ty địa phương, theo sau đó là Samsung Electronics Co, Ltd, Goldstar Co., Ltd, và Taihan Electric Wire Co.,Ltd. Sau khi Matsushita tham gia vào Hàn Quốc thì Sony nối gót theo sau. Lúc đầu, các sản phẩm sản xuất chỉ dành để xuất khẩu, vì cho đến lúc đó Hàn Quốc vẫn chưa có hệ thống truyền hình ti-vi màu nên thị trường trong nước là con số không. Đến cuối năm 1978 khi thị trường xuất khẩu giảm mạnh, các doanh nghiệp này nhanh chóng chuyển sang thị trường trong nước nơi mà truyền hình ti-vi màu bắt đầu hoạt động. Tuy vậy, thị trường ti-vi màu cũng nhanh chóng bão hòa, khiến các doanh nghiệp điện tử phải tìm một chiến lược phát triển khác. Tình thế khó khăn khiến cả Matsushita và Sony quyết định rút khỏi thị trường Hàn Quốc. Lúc này Samsung quyết định đầu tư vào thị trường công nghệ vi xử lý. Ban đầu Samsung định đấu giá mua bản quyền sản xuất công nghệ bộ nhớ động 64K-DRAM. Đấu giá thất bại khiến Samsung thực hiện một chiến lược tham vọng hơn nhằm phát triển riêng công nghệ VLSI cho chính mình, và quá trình được thực hiện ở Mỹ nhờ phần lớn vào các kỹ sư gốc Hàn ở đây. Samsung cho thành lập một phòng thí nghiệm ở thung lũng Silicon, Mỹ đặc trách việc nghiên cứu công nghệ này, và các kỹ sư gốc Hàn tốt nghiệp ở Mỹ đóng vai trò là cầu nối chuyển giao công nghệ từ trung tâm nghiên cứu ở California về Hàn Quốc. Chỉ mất mười năm để ngành công nghiệp điện tử Hàn Quốc lột xác từ một ngành công nghiệp chuyên lắp ráp thành đứng đầu trong công nghệ DRAM. Công đó tùy thuộc rất lớn vào các kỹ sư gốc Hàn đang làm việc ở các trung tâm nghiên cứu ở Mỹ. 

Những ngày ở Mỹ, gặp những bạn người Hàn Quốc đang làm nghiên cứu sau tiến sỹ, hỏi bạn có định về Hàn Quốc không, bạn bảo chưa biết nữa. Tôi nghe, nghĩ nhiều đến câu chuyện trên đây, và hiểu ra tại sao các công ty công nghệ của họ nắm bắt thị trường năng động vậy, nếu chẳng nhờ một phần lớn ở các kỹ sư gốc Hàn ở đây. 

Hai câu chuyện tiếp theo tôi muốn kể là ở Bắc Âu, nơi tôi học. 

Những bạn học kinh tế vĩ mô tính toán (quantitative macroeconomics) hay thị trường không hoàn hảo (incomplete market) sẽ phải học qua mô hình Krusell-Smith; bài báo xuất bản năm 1998 trên tạp chí hàng đầu Journal of Political Economy. Per Krusell người Thụy Điển, tốt nghiệp tiến sỹ kinh tế ở đại học Minnesota năm 1992, sau đó làm giáo sư cho các đại học ở Mỹ. Cho đến trước khi về lại Stockholm, Thụy Điển năm 2008 nhận chức giáo sư cho Viện Nghiên Cứu Kinh Tế Thế Giới (Institute for International Economic Studies -- IIES) thuộc đại học Stockholm thì ông là giáo sư (full professor) của đại học Princeton. Sự góp mặt của ông cùng hợp tác của các giáo sư khác biến IIES trở thành một trong các trung tâm nghiên cứu kinh tế hàng đầu châu Âu. Nói thêm, một tỉ lệ lớn các giáo sư trẻ mới gia nhập IIES là gốc Đức. 

Một ví dụ khác là một người thầy của tôi, giáo sư kinh tế Kjetil Storesletten ở đại học Oslo. Kjetil Storesletten người Nauy, lấy bằng tiến sỹ kinh tế ở đại học Carnegie Mellon, Mỹ năm 1995. Sau đó ông bôn ba, làm giáo sư ở viện nghiên cứu kinh tế IIES Stockholm, về lại Oslo làm giáo sư cho đại học Oslo, tiếp theo đó ông qua lại Mỹ làm cố vấn chính sách tiền tệ (monetary advisor) ở Ngân Hàng Trung Ương Mỹ Minneapolis (Fed Minneapolis) đến năm 2012 thì trở về lại Oslo làm giáo sư và là một trong các thành viên của Ủy Ban Chính Sách Tiền Tệ của Ngân Hàng Trung Ương Nauy. Sự trở về của ông kèm theo một dự án nghiên cứu được tài trợ bởi Ủy Ban Nghiên Cứu Châu Âu thông qua đó nhằm xây dựng một trung tâm nghiên cứu kinh tế tính toán ở Oslo. Chỉ trong một thời gian ngắn 3 năm trung tâm đã qui tụ được một lực lượng đáng kể các nghiên cứu viên về kinh tế tính toán, công đó nhờ vào những nỗ lực và mạng lưới làm việc của ông. 

Ở trên, nếu hai vị giáo sư về nước sớm, hẳn các ông sẽ khó mà có được một mạng lưới liên kết nghiên cứu tốt cũng như kinh nghiệm nghiên cứu sâu nếu các ông không có cơ hội tương tác trong các môi trường nghiên cứu đỉnh cao. 

Ở một góc khác trong cộng đồng Việt Nam, rất nhiều bạn nhận được sự giúp đỡ học bổng và hướng dẫn nghiên cứu của các giáo sư người Việt. Các giáo sư người Việt ở ngoài còn đóng vai trò là cầu nối về mặt học thuật giữa các đại học Việt Nam và thế giới. 

Các ví dụ trên chỉ là vài trong vô số các ví dụ để cho thấy có một cộng đồng ở bên ngoài là một điều vô cùng cần thiết cho đất nước, với điều kiện các cơ quan trong nước biết cách giữ một mối quan hệ chặt chẽ. Cộng đồng bên ngoài đóng vai trò là cơ quan cập nhật thông tin và công nghệ khoa học cho đất nước. 

Cuối cùng, tôi xin kể một câu chuyện về sự phát triển thành công ngành đầu tư mạo hiểm của Israel như là một trong rất nhiều câu chuyện thành công của họ nhờ ở cộng đồng Do Thái ở nước ngoài. 

Những năm đầu sau khi Liên Bang Sô Viết sụp đổ, một lượng lớn dân Do Thái từ các nước thuộc Liên Bang Sô Viết đổ về Israel. Trong vòng 3 năm tổng số người nhập cư khoảng một triệu người, chiếm 20% dân số Israel. Trình độ dân nhập cư rất cao với 40% có bằng đại học trở lên. Để giải quyết công ăn việc làm cho những người này, chính quyền Israel khuyến khích họ lập những công ty khởi nghiệp. Vấn đề còn lại duy nhất là vốn. Lúc đầu chính quyền Israel chọn chính sách cho vay trực tiếp. Nhưng chính sách này sau đó nhanh chóng thất bại. Các công ty sản xuất ra sản phẩm chất lượng tốt nhưng thất bại ở khâu tài chính và phân phối, hàng làm ra bán không được. Chính sách thất bại khiến chính quyền Israel nghĩ sang thử nghiệm một hướng khác và lần này thành công. 

Lần này chính quyền Israel định hướng lập ra một thị trường đầu tư tài chính mạo hiểm. Trước hết họ lập ra một công ty đầu tư trị giá 100 triệu đô la Mỹ lúc bấy giờ gọi là Yozma Venture Capital (YVC). Yozma trong tiếng Hebrew nghĩa là « khởi đầu ». Cùng với các đối tác chiến lược họ lập ra 10 quỹ, ở mỗi quỹ YVC bỏ ra 8 triệu đô, một tỉ lệ thiểu số so với đối tác, sau đó đầu tư trực tiếp vào 15 công ty. Điều kiện giao kèo là sau 5 năm, các đối tác chiến lược được phép mua lại hết cổ phần của YVC với các điều kiện định trước, thường là mức vốn ban đầu với một mức lãi suất cố định thấp. Việc lựa chọn các đối tác chiến lược trở nên dễ dàng hơn nhờ chính quyền tận dụng được các mối quan hệ với cộng đồng Do Thái bên ngoài vốn nối tiếng ở các hoạt động tài chính. 

Kết quả là 8 trong 15 công ty mà YVC đầu tư được đưa lên sàn chứng khoán hoặc được mua lại. 9 trong 10 quỹ các đối tác quyết định mua lại cổ phần của YVC. Kể từ đó ngành công nghiệp đầu tư mạo hiểm của Israel bắt đầu được hình thành và các công ty công nghệ thành công của Israel xuất hiện ngày càng nhiều. 

Sự thành công trong chính sách dựng xây nên nền công nghiệp đầu tư mạo hiểm của Israel sau đó được học hỏi và thực hiện ở Đài Loan, Hàn Quốc, Nam Phi, Úc, New Zealand, Đan Mạch, Cộng Hòa Séc và Slovakia. 

Một câu hỏi cuối cùng đó là làm sao để du học sinh và người Việt ở hải ngoại có thể đóng góp nhiều hơn cho đất nước? Những người quan tâm đến đất nước và cả những nhà cầm quyền hẳn đã biết câu trả lời, vì nó đơn giản là nguyện vọng thiết tha của dân tộc mà rất rất nhiều người góp ý và lên tiếng bằng cách này hay cách khác trong suốt bao nhiêu năm qua : Hãy cho người dân được tự do chọn cho mình người lãnh đạo và người lãnh đạo hãy thực hiện những chính sách vì lợi ích của nhân dân. Chỉ một khi người dân, du học sinh và kiều bào hải ngoại, thấy rằng họ có tiếng nói và họ làm được những thay đổi có ý nghĩa ở quê nhà hẳn họ sẽ trở về hay góp công sức theo cách này hay cách khác nhiều hơn.

Những ngày ly hương dân Do Thái hay nhớ về cố hương và họ chúc tụng nhau rằng « Hẹn gặp ở Jerusalem » để nuôi hi vọng rằng một ngày nào đó họ có một đất nước để quay về. Tôi cũng muốn ước rằng « Hẹn gặp ở Việt Nam » với những người bạn mong ước nhìn thấy một đất nước Việt Nam tự do cho tất cả mọi người, kể cả những người theo Đảng Cộng Sản. 


Nguyễn Huy Vũ

Minneapolis, 10.12.2015

15.2.14

Chuyện thi cử VN và Nauy

Vẫn biết nhiều khi so sánh giữa một nước phát triển và một nước đang phát triển, như ở nhà, là một sự khập khiễng. Nhưng những so sánh cứ  tự nhiên trở về khi mình có dịp tiếp xúc và làm việc với người ở các nước ngoài này.

Nghe bạn kể vanh vách từng tên ông thầy ăn tiền sinh viên, mình ngồi nghe mà tròn mắt. Có thầy dạy xong bảo lớp trưởng lên nói chuyện, lớp trưởng lên hỏi chuyện gì, thầy bảo đứa nào muốn đậu đóng 1 triệu, đứa nào không đóng không đậu. Lớp trưởng về báo cáo lại, một số bạn nộp tiền cho lớp trưởng, gửi thầy, các bạn đó đậu, các bạn còn lại rớt. Có thầy sau khi dạy xong, bảo sinh viên muốn biết điểm nhắn tin điện thoại cho thầy, sinh viên nhắn tin để nhận lại giá tiền muốn đậu phải nộp. Cái danh sách cứ dài ra, mà có phải thầy ở trường hạng hai, hạng ba đâu, đằng này toàn các thầy thuộc trường hàng đầu ở Sài Gòn. Ngày xưa, đứa em kể đi học mấy đứa nào dẫn thầy đi nhậu, đứa đó đậu, những đứa không có tiền dẫn thầy đi nhậu hoặc đưa tiền cho thầy, rớt. Lúc đầu mình không tin, giờ càng ngày càng hiểu. Bạn bảo thêm, các thầy đi dạy rất giàu, mặc dù mình thấy đi dạy mỗi tiết (45 phút), chỉ có 90 ngàn.  Ông thầy như vua, vừa dạy vừa chấm điểm cho sinh viên, muốn cho đứa nào điểm cao thì cho, muốn cho rớt thì rớt.

Còn giáo dục Nauy.  Chuyện thi cử của họ rất nghiêm túc. Khi làm bài thi, mỗi sinh viên được phát cho một xấp giấy làm bài thi. Mỗi tờ giấy làm bài thi bao gồm 3 tờ giấy mỏng dính chồng lên nhau. Tờ trên cùng màu trắng dùng để viết trực tiếp lên, tờ thứ hai nằm giữa màu vàng, và tờ cuối cùng màu trắng nhạt, hai tờ giữa và cuối là kiểu giấy in. Khi sinh viên viết bài lên tờ giấy đầu, hai tờ giấy nằm dưới cũng tự động lưu lại những gì sinh viên viết. Cuối buổi thi hai tờ trên cùng gửi cho giám khảo gửi để chấm bài, tờ dưới cùng sinh viên giữ lại, để có gì sau này đối chiếu. Hai tờ kết quả của sinh viên sau đó sẽ được gửi cho hai giám khảo chấm bài. Tờ đầu (mà sinh viên viết trực tiếp lên) được gửi cho một giám khảo phụ thuộc trường khác dùng để chấm điểm cho sinh viên. Tờ thứ hai được gửi cho một giám khảo chính (thường là giáo sư của môn dạy hay trợ giảng) để chấm bài. Sau khi hai giám khảo chính và phụ chấm xong, hai người sẽ so sánh điểm của nhau và thảo luận nếu điểm của cùng một sinh viên mà hai người chấm khác nhau. Và điểm cuối cùng thì hai giám khảo sẽ phải kí và gửi cho ban quản lý. Bằng cách để cho sinh viên nắm một bản bài thi giúp cho các giám khảo không thể nào sửa bài sinh viên. Việc để cho giám khảo chính nắm bản thứ 2, thay vì bản thứ 1, vì bản thứ 2 là bản giấy in, nên giám khảo chính không thể sửa bài của sinh viên nếu cho dù trong quá trình dạy có tình cảm với sinh viên đi chăng nữa. Khi hai giám khảo cùng chấm bài và so sánh, mà một giám khảo nằm ở trường khác,  thì khả năng giám khảo chính chấm thiên vị cho sinh viên cũng không còn. Khi có một vị giám khảo nằm ở trường ngoài chấm điểm thì họ sẽ biết ông thầy trường chính đang dạy những gì và có đàng hoàng tử tế hay không. Ông thầy trường chính do đó cũng phải dạy và thi cho nó đàng hoàng tử tế. 

Người phương Tây rất thực tế, họ thiết kế một cơ chế để giảm thiểu tiêu cực, chứ không kêu gọi suông kiểu "nói không với tiêu cực" hay mong chờ lòng tự trọng (vốn đã không còn ở các ông thầy nhận tiền sinh viên để cho điểm). 

Oslo, 30.9. 2013

18.8.12

Giáo dục: cứu cánh cho nền kinh tế Việt Nam


Kinh tế Việt Nam đang đứng trước những khó khăn rất lớn. Không khó để thấy được các khó khăn chính phủ đang phải đối mặt, đó là nợ xấu ngân hàng, các doanh nghiệp tư nhân phá sản tăng, doanh nghiệp nhà nước kinh doanh kém hiệu quả, sức mua nội địa giảm, thất nghiệp tăng nhanh… Đối với chính phủ, vấn đề quan tâm nóng nhất hiện nay là các vấn đề về kinh tế: làm sao để vực dậy một nền kinh tế tăng trưởng ốm yếu.

Khi quan sát thấy số doanh nghiệp khai báo phá sản hoặc ngừng hoạt động hơn 70 ngàn doanh nghiệp chỉ trong vòng 5 tháng, nhiều phân tích “lạc quan” cho rằng đây cuối cùng cũng chỉ là sự “phá hủy sáng tạo” (creative destruction) nhằm tạo ra một thế hệ các công ty có năng lực vượt trội. Nếu nhìn kỹ vào thực trạng của nền kinh tế, đó là một sự lạc quan không căn cứ. Sự phá hủy sáng tạo thường đi kèm với nó là những tiến bộ về công nghệ và tiến triển về năng suất lao động. Điều này không hề thấy trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay, ít nhất là trong ngắn hạn. Có ý kiến cho rằng sau cuộc khủng hoảng này, các doanh nghiệp sống sót sẽ cải tổ để hoạt động hiệu quả hơn. Điều này đúng chủ yếu với các doanh nghiệp nhà nước chịu bao cấp, sau cuộc khủng hoảng này sẽ phải được cải tổ và áp đặt một cơ chế hoạt động và giám sát mới. Tuy vậy, nếu những chính sách kinh tế của chính phủ như hiện nay có thể giúp phục hồi nền kinh tế, Việt Nam cũng chỉ quay lại với những cơ cấu kinh tế kiểu cũ. Có nhiều dự đoán cho thấy nền kinh tế hiện nay đã tăng trưởng gần đến mức bão hòa khi dựa vào những nguồn lực sẵn có về công nghệ, nguồn nhân lực rẻ và tài nguyên. Nếu không có một chính sách đầu tư về nguồn nhân lực, có nhiều khả năng Việt Nam sẽ chỉ loay hoay với mô hình kinh tế kiểu cũ và rơi vào bẫy thu nhập trung bình.

Câu hỏi đặt ra là bắt đầu những cải cách về chính sách đầu tư nguồn nhân lực như thế nào. Đây là một câu hỏi liên quan đến giáo dục và cơ chế. Dưới đây là một vài điểm chính mà chính sách giáo dục có thể thực hiện ngay nhằm vực dậy nền khoa học và giáo dục.

  1. Tăng mức lương cơ bản

Chất lượng giảng viên đại học hiện nay rất kém. Với một mức lương cơ bản dưới 5 triệu đồng hàng tháng, so với thời giá hiện đại, một giảng viên khó mà sống nổi với nghề nếu họ không “chạy sô” đi dạy thêm trường khác. Tuy vậy, không phải giảng viên nào cũng kiếm được sô để dạy thêm. Vào cơ hữu ở đại học lúc này giống như có một chân ở đại học và người giảng viên dùng cái uy tín để đi kiếm tiền thêm nơi khác. Động lực để nghiên cứu và cải thiện đóng góp chương trình dạy và học không có. Ngoại trừ những giảng viên thâm niêm có vị trí cao nhận được những lớp dạy với mức thù lao hậu hĩnh, mức thu nhập cho giảng viên mới vào quá thấp.

Khi mức lương cơ bản trả cho một thạc sỹ để làm giảng viên ở trường đại học chưa tới 5 triệu đồng / tháng, khó có thể giữ chân những giảng viên ưu tú khi mức lương ở ngoài thị trường hấp dẫn hơn nhiều. Kết quả là chỉ còn những giảng viên ở lại với mục đích kiếm một suất học bổng đi du học, hoặc kiếm thêm sô đi dạy, hoặc cảm thấy ít có khả năng cạnh tranh ở ngoài và muốn an phận. Những sinh viên ưu tú không muốn dấn thân vào con đường khoa học và giảng dạy.

Tuy vậy, không phải là trường không có tiền để trả lương giảng viên, mà thực chất là có những khoản tiền bị “thất thoát”. Lấy ví dụ, mức lương thỉnh giảng mà một giảng viên được nhận cho một lớp đại học công lập là khoảng 120 ngàn đồng / tiết. Mức lương trung bình theo tiết trả cho giảng viên cơ hữu còn rẻ hơn nhiều nữa. Một lớp khoảng 100 sinh viên, vị chi một sinh viên trả 1,2 ngàn đồng / tiết. Một môn học trung bình khoảng 50 tiết, mỗi sinh viên trả khoảng 60 ngàn đồng tiền giảng cho một môn học. Nếu một năm học gồm hai học kì có tổng cộng 15 môn, số tiền phải trả cho giảng viên thỉnh giảng là 900 ngàn đồng/ sinh viên. Nếu giả sử các chi phí về điện, nước, hành chính liên quan bằng số tiền trả cho giảng viên thỉnh giảng thì tổng mức chi phí cho một sinh viên trong 2 năm học chưa tới 2 triệu đồng/sinh viên. Với mức học phí mỗi học kì trung bình 5 triệu đồng như hiện nay, nhà trường có thể “bỏ túi” ít nhất khoảng 8 triệu đồng/sinh viên/năm học. Trên đây là con số với giả sử trả cho giảng viên thỉnh giảng và ở trường công với mức học phí ưu đãi, nếu các trường chỉ bao gồm giảng viên cơ hữu, mức chi trả lương cho giảng viên có thể thấp đi tới một nữa, hoặc ở các trường dân lập, mức học phí tăng cao hơn, và do đó lợi nhuận từ học phí cao hơn con số 8 triệu đồng / sinh viên / năm nhiều. Với một ngôi trường có khoảng 10 nghìn sinh viên, mỗi năm trường thu nhập ít nhất 80 tỉ trước thuế, chưa kể các khoản đóng góp, hợp tác, hỗ trợ khác. Chính vì lợi nhuận khổng lồ đó, hàng loạt trường đại học đã được mở ra chỉ trong một khoản thời gian ngắn.

Việc quy định mức lương cơ bản cho các giảng viên trẻ, ít nhất là bằng mức lương mà họ có thể kiếm được ở ngoài, là cần thiết. Việc tăng mức lương cơ bản còn giúp tôn vinh vị trí giảng viên và tạo động lực thu hút những sinh viên ưu tú tham gia vào hoạt động giáo dục.

Bên cạnh đó, các mức thưởng nên căn cứ vào thành tích nghiên cứu khoa học của các giảng viên nhằm khích lệ tinh thần nghiên cứu khoa học cũng như cung cấp thêm thu nhập cho giảng viên.

  1. Rà soát và cải tạo các chương trình đào tạo tiến sỹ

Các chương trình đào tạo tiến sỹ nhằm đào tạo ra đội ngũ nghiên cứu khoa học cho đất nước, thay vì cấp các tấm bằng giúp cho việc thăng tiến trong hành chính sự nghiệp. Trong một thời gian dài, việc buông lỏng quản lý các chương trình này đã tạo ra những thế hệ tiến sỹ trình độ kém, không có khả năng nghiên cứu khoa học. Những vị này sau khi nhận bằng lại quay ra nắm giữ những vị trí lãnh đạo trọng trách trong giáo dục, đào tạo và nhiều lĩnh vực khác đã khiến nền giáo dục và khoa học ngày càng đi xuống.

Việc rà soát lại các chương trình đào tạo tiến sỹ của các trường đại học nhằm đảm bảo chỉ có những chương trình đào tạo có chất lượng mới được thực hiện.

Trước mắt nên đặt mục tiêu các nghiên cứu sinh tiến sỹ của Việt Nam khi bảo vệ luận văn phải có trình độ tương đương với các nước trong khu vực. Để làm được điều này, Bộ Giáo Dục nên có quy định hội đồng bảo vệ luận văn tiến sỹ có ít nhất một giám khảo đến từ một trường đại học có uy tín nước ngoài.

Thực hiện quy định này rất khó khăn trong điều kiện hiện nay, nhưng không phải là không thể. Thay vì mỗi trường có một chương trình đào tạo tiến sỹ riêng, Bộ Giáo Dục nên đứng ra hỗ trợ các trường trong một khu vực hợp tác tổ chức một trung tâm chung đào tạo các chương trình sau đại học, một kiểu graduate school ở các nước phương Tây. Các giáo sư là các giảng viên ưu tú từ các trường này. Các trung tâm này được cấp kinh phí nghiên cứu và khuyến khích sự hợp tác với các giáo sư người Việt ở nước ngoài trong việc hỗ trợ và hướng dẫn nghiên cứu sinh.

Bộ Giáo Dục nên ra một quy định là miễn phí chương trình học nghiên cứu sinh và chỉ những nghiên cứu sinh bằng cách này hay cách khác nhận được nguồn tài chính để theo học các chương trình tiến sỹ mới được nhập học. Nên có một quỹ học bổng đài thọ cho các nghiên cứu sinh ưu tú chi phí sinh hoạt bên cạnh quy định miễn học phí.

  1. Lọc chất lượng giảng viên

Tăng mức lương cơ bản chỉ giúp tạo một động lực hấp dẫn những sinh viên ưu tú quan tâm và dấn thân vào khoa học và giáo dục. Nó là điều kiện cần để ngành giáo dục và đào tạo có thể phát triển.

Ở Việt Nam, các trường đại học, chủ yếu là công lập, còn đối diện với một thực tế là họ đã đủ chỉ tiêu giảng viên, không thể tuyển thêm giảng viên trẻ, nhưng lực lượng giảng viên hiện có đa số rất thụ động không muốn dấn thân nghiên cứu hay cải thiện việc giảng dạy. Việc tăng lương do đó không thể giải quyết được vấn đề cải thiện chất lượng giáo dục trong trường hợp này. Một giải pháp khác là lọc giảng viên thông qua chất lượng nghiên cứu khoa học. Bộ Giáo Dục nên ra quy định là các giảng viên cơ hữu muốn duy trì vị trí phải có ít nhất ba bài báo trên các tạp chí quốc tế hoặc đã bảo vệ luận văn tiến sỹ ở một trường có uy tín ở nước ngoài. Việc đưa ra một quy định như vậy nên có một lộ trình để thực hiện, thời gian hợp lý khoảng 5 năm kể từ ngày đưa ra quy định. 5 năm cũng là một khoảng thời gian đủ để một nghiên cứu sinh hoàn thành luận án tiến sỹ.
Sau 5 năm, nếu những giảng viên cơ hữu hiện thời không hoàn thành quy định sẽ bị cắt hợp đồng.

Trong những trường hợp các vị trí giảng viên tại các trường đại học công lập có được là do sự đút lót thay vì trình độ và khả năng nghiên cứu khoa học, việc đưa ra một quy định lọc chất lượng giảng viên như vậy cũng sẽ tự động giúp loại bỏ đi những giảng viên yếu kém.

  1. Sửa lại chính sách cấp học bổng đào tạo tiến sỹ

Các chương trình như 322, 911 chủ yếu cấp học bổng cho cán bộ, giảng viên của các trường đại học nhằm hoàn thiện chương trình tiến sỹ ở nước ngoài và về nước công tác.

Mục tiêu rất tốt đẹp, tuy nhiên các chương trình này thực sự không hiệu quả.

Như đã phân tích ở trên, với chế độ đãi ngộ quá thấp như hiện nay, lực lượng giảng viên trẻ cơ hữu còn giữ lại ở các trường đại học không phải là lớp sinh viên ưu tú nhất, nếu không nói là chỉ hạng khá. Lớp sinh viên ưu tú nhất không kham chịu nổi các khó khăn về tài chính đã ra ngoài làm cho các công ty.

Chính sách cấp học bổng ưu đãi cho cán bộ công nhân viên trong trường hợp này giống như là phần thưởng cho những đóng góp với mức lương rẻ mạt của họ cho nền giáo dục. Những cán bộ, giảng viên này sau khi cố gắng học xong các chương trình tiến sỹ bắt buộc quay về nước phục vụ trở lại cho giáo dục. Với năng lực chỉ ở hạng khá, các nghiên cứu khoa học của họ nếu có cũng chỉ ở mức bình bình. Thêm nữa, việc phải chấp nhận một mức lương thấp đồng nghĩa với việc họ không có động lực đóng góp vào giáo dục và nghiên cứu khoa học. Nếu có tham gia vào giáo dục, họ cũng sẽ cố gắng kiếm một vị trí tốt về mặt hành chính để từ đó có thể thông qua các dự án hay dạy thêm để kiếm thêm thu nhập. Ở đây, tấm bằng tiến sỹ chỉ còn có mục đích thăng tiến vị trí hành chính thay vì nó là khởi đầu của một sự nghiệp khoa học.

Chính sách cấp học bổng của Bộ Giáo Dục do đó cần sửa lại theo hướng khuyến khích động cơ của người học và đóng góp vào sự nghiệp giáo dục. Trước tiên, chính sách cấp học bổng nên mở và xét chung cho cả các đối tượng đang làm việc ở các khu vực ngoài giáo dục với điều kiện các đối tượng này sau khi nhận học bổng sẽ phải làm việc cho một tổ chức giáo dục hay khoa học của Việt Nam trong một thời gian như trong hợp đồng. Làm như vậy sẽ thu hút được lớp sinh viên ưu tú nhất vốn đã ra ngoài làm việc.

Quá trình xét cấp học bổng nên được thực hiện một cách công bằng dựa vào trình độ học vấn và khả năng theo đuổi chương trình tiến sỹ. Tuy nhiên, nếu cả hai thí sinh đều như nhau, lẽ dĩ nhiên nên ưu tiên các cán bộ giảng viên trẻ có kinh nghiệm nghiên cứu giảng dạy và đóng góp vào sự nghiệp giáo dục.

Khi các nghiên cứu sinh đã hoàn tất quá trình học và quay về nước, trường đại học nên cung cấp một cơ chế ưu đãi về lương bổng và chế độ làm việc. Mức đãi ngộ này ít nhất phải tương đương với mức thu nhập mà họ có thể kiếm được bên ngoài.

Có như vậy ngành giáo dục mới có thể thu hút được những sinh viên ưu tú nhất của quốc gia sẵn lòng nghiên cứu khoa học và nhiệt tình đóng góp vào sự nghiệp khoa học và giáo dục cho đất nước.

Bộ Giáo Dục nên dành hẳn một phần trên trang web của mình liệt kê các loại học bổng, chỉ tiêu hàng năm, cách thức nộp đơn, điều kiện. Nên cho phép nộp đơn online trực tiếp và công khai người nhận học bổng và người nộp đơn trên mạng.  Điều này cũng giúp giảm đi những tiêu cực trong quá trình xét duyệt.

  1. Sắp xếp lại ban quản trị trường đại học

Cơ chế tự chủ trường đại học đã được bàn nhiều. Các mô hình cũng có rất nhiều. Tuy vậy, nhìn chung ban quản trị các trường đại học bao gồm một ủy ban với một người đứng đầu được tuyển chọn bởi chính một ủy ban từ trường đại học hoặc một ủy ban giáo dục bên ngoài thường là từ Bộ Giáo Dục. Ban quản trị của trường đại học chịu trách nhiệm bổ nhiệm nhân sự, giáo sư, quản trị tài chính, được quyền tự thiết kế chương trình học và định hướng của ngôi trường.

Trong trường hợp của Việt Nam, một ủy ban bổ nhiệm ban quản trị của một trường đại học nên do Bộ Giáo Dục chủ trì. Cơ chế tự chủ với một ban quản trị có viễn kiến sẽ giúp cho trường đại học nhanh chóng chuyển đổi phương thức dạy, học và nghiên cứu của mình.

  1. Đào tạo kỹ năng học suốt đời

Một trong những kỹ năng để tồn tại và phát triển đối với bất kì một chuyên gia nào trong thời đại hiện nay là khả năng tự học suốt đời.

Tự biết mình là các nước nhỏ (về dân số, Đan Mạch: 5,5 triệu, Nauy: 5 triệu , Thụy Điển: 9,4 triệu, Phần Lan: 5,4 triệu) và dùng ngôn ngữ đặc trưng, khả năng tồn tại và phát triển do đó chủ yếu dựa vào ngoại thương với các nước khác và nền tri thức cũng phải phụ thuộc vào các nước lớn hơn, các nước Bắc Âu (Đan Mạch, Nauy, Thụy Điển, Phần Lan) đã đưa “kỹ năng học suốt đời” thành một chính sách giáo dục của mình.

Chính sách này nhấn mạnh việc đào tạo những sinh viên có khả năng tự học, tự nắm bắt những kiến thức, kỹ thuật mới. Một mục tiêu ban đầu quan trọng là trang bị cho sinh viên khả năng ngoại ngữ, chủ yếu là tiếng Anh, nhằm nắm bắt trực tiếp kiến thức khoa học thế giới. Ngày nay, rất dễ dàng bắt gặp một sinh viên nói tiếng Anh lưu loát như người bản địa ở các nước Bắc Âu hơn tại bất cứ quốc gia nào không dùng tiếng Anh. Ngoài việc trang bị khả năng Anh ngữ cho giáo viên, cải thiện chương trình học, các chương trình tivi bằng tiếng Anh cũng giúp cho sinh viên làm quen với tiếng Anh từ rất sớm. Từ bậc cao học trở lên, các chương trình chủ yếu bằng tiếng Anh.

May mắn là gần đây các chương trình truyền hình cáp của Việt Nam bắt đầu có nhiều chương trình bằng tiếng Anh giúp thế hệ trẻ quen dần với ngôn ngữ quốc tế này. Tuy vậy, có nhiều điều cần làm để thực hiện chính sách “đào tạo kỹ năng học suốt đời” cho học sinh, sinh viên.

Một việc có thể thực hiện được là bắt buộc các chương trình từ cao học trở lên thực hiện tại các trung tâm đào tạo sau đại học phải được trực tiếp giảng dạy và nghiên cứu bằng tiếng Anh.

Bên cạnh đó, nâng cấp các chương trình đào tạo Anh ngữ tại các trường đại học và bắt buộc sinh viên dùng các giáo trình tham khảo bằng Anh ngữ khi thực hiện giảng dạy và nghiên cứu.

Các chương trình học hiện nay dành cho bậc đại học là quá dài: trung bình 4 năm cho khối ngành kinh tế và 4.5 - 5 năm cho khối ngành kỹ thuật. Nên rút lại còn 3 năm cho khối ngành kinh tế và 4 năm cho khối ngành kỹ thuật, bên cạnh đó kèm thêm các chương trình tiếng Anh thực tế hơn.

“Kỹ năng học suốt đời” nên được trang bị cho trẻ từ khi mới chào đời. Ở Phần Lan, khi mang thai, bố mẹ được tặng 3 cuốn sách. Một cho bố, một cho mẹ và một cho đứa trẻ mới chào đời. Sách cho bố và mẹ hướng dẫn cách chăm sóc con. Sách cho trẻ kích thích và giúp trẻ làm quen với việc đọc sách ngay từ bé. Khả năng đọc sách, tìm tòi nghiên cứu được làm quen từ bé giúp trẻ sớm phát triển khả năng sáng tạo và tự học khi lớn lên.

Bộ Giáo Dục cũng nên có chính sách định hướng và khuyến khích việc đọc sách của trẻ em, cũng như khuyến khích việc xây dựng thêm các thư viện trung tâm ở các huyện, xã.

***

Cải cách giáo dục là một quá trình lâu dài với rất nhiều lĩnh vực đòi hỏi phải cải tổ. Trên đây chỉ là vài ý, và danh sách trên chắc chắn không hoàn hảo. Có nhiều vấn đề cần phải bàn thêm về giáo dục tiểu học, trung học,... Những ý kiến trên mục tiêu chỉ nhắm chủ yếu đến đào tạo bậc đại học và sau đại học, vì đây là giai đoạn quan trọng đào tạo những kĩ năng cần thiết cho các chuyên gia đầu ngành, giảng viên của các trường đại học. Đây là lực lượng có tác động rất lớn đến sự thay đổi của giáo dục và hình thành nên bộ mặt khoa học công nghệ của một quốc gia. Sự thay đổi về chất và lượng của lực lượng này sẽ ảnh hưởng sâu sắc lên cách thực hiện chính sách giáo dục. Có thể nói cách thay đổi như vậy là cách thay đổi từ trên xuống.

Sự phát triển của một quốc gia phải được nâng đỡ bởi chính nội lực của nó. Nội lực ở đây là trình độ giáo dục, khoa học và công nghệ. Không có một quốc gia phát triển nào mà không có một hệ thống giáo dục khoa học tiên tiến. Cũng như, không có một quốc gia nào có một hệ thống giáo dục khoa học tiên tiến mà không phát triển.

Những cố gắng cải thiện chính sách kinh tế trong ngắn hạn nên được đi kèm với những hỗ trợ và cải cách về giáo dục mạnh mẽ hơn. Có như vậy nền kinh tế mới có những bước nhảy vọt lên một ví trí cao hơn.

Lẽ dĩ nhiên, khi thực hiện những cải cách như trên sẽ gặp phải rất nhiều chống đối từ những người đang hưởng lợi từ việc duy trì tình trạng hiện có của hệ thống. Đó là những giảng viên không muốn nỗ lực nghiên cứu khoa học, những nhà quản trị đại học trình độ kém, và những cá nhân hưởng lợi khác. Việc thực hiện những cải cách như vậy do đó phải phát xuất từ một quyết tâm chính trị. Ở đây, vai trò của các chính trị gia quyết định. 

Nguyễn Huy Vũ
21/06/2012

14.4.12

Nghiên cứu ở Việt Nam

Hồi còn ở VN, lúc còn học ở trường Khoa Học Tự Nhiên, Tp. Hồ Chí Minh, có hội thi thả trứng không bể. Thả quả trứng từ tầng 4 của tòa nhà sao cho quả trứng không bể. Quả trứng bị bể coi như thua. Suy nghĩ cách nào thả quả trứng mà không bể. Một chiều đi học về lang thang, suy nghĩ, chợt thấy trái dầu bay từ từ xoay tít trong gió nhờ 2 chiếc lá như cánh quạt giảm tốc độ. Về nhà làm một một khung bằng thép nhỏ, có 2 cánh quạt chăng bằng bọc nylon, đo cánh mọi thứ, rồi bỏ quả trứng vào, thả thử, trứng không bể. Yên tâm đi thi. Ngày thi, thấy các "cao thủ" rất đông. Sử dụng đủ các "chiêu thức". Kẻ thì làm mô hình trái bóng bằng nước, trong để quả trứng bên trong. Người thì dùng "tên lửa" bên trong để quả trứng. 1, 2, 3 từ từ thả mô hình. Thả từ tầng 4 xuống và đứng quan sát. Trứng vỡ hết. Riêng mô hình của tôi hình quả dầu với 2 cánh bay nhẹ nhẹ, chầm chậm xuống, tiếp đất an toàn và quả trứng không bể. Thắng giải nhất, được đâu 100 ngàn. Dẫn mấy đứa bạn đi ăn kem. Hết. Đối với nhiều người lúc bấy giờ, nghiên cứu hay phát triển ở VN là một cái gì đó kiểu ... vui chơi. Thừa tiền, rỗi sức. Bởi suy nghĩ đơn giản là nghiên cứu không tạo ra tiền. Họ có thể suy nghĩ và thầm khâm phục người phương Tây về khả năng và sự đam mê nghiên cứu, nhưng đối với họ nghiên cứu là một cái gì rất cao xa và ... không cần thiết, nhất là ở VN. Mua công nghệ về làm, mua bộ phận về lắp ráp, hoặc mua hàng hóa đã làm sẵn (từ Trung Quốc, Hàn Quốc, hoặc vài nước khác) về bán dễ sinh lợi hơn.

Mười năm sau về lại. Tôi vẫn chưa thấy sự thay đổi trong suy nghĩ của nhiều người ở VN. Ở ngay chính những người đã tốt nghiệp ra trường đại học và đi làm. Nghiên cứu không cần thiết, nghiên cứu một cách cơ bản, sâu sắc lại càng không; và người châu Âu cái gì cũng thích nghiên cứu. Đúng.

Hàng ngày chúng ta xem những kênh Geographic Channel, mới khâm phục lòng kiên trì và đam mê nghiên cứu của họ. Họ có thể dành 30 năm chỉ để nghiên cứu con tàu Titanic tại sao bị chìm và chìm như thế nào. Mà đôi khi chúng ta chỉ mất 30 phút để xem kết luận của họ. Họ dành cả cuộc đời chỉ để nghiên cứu chất phóng xạ, mà cuối cùng chúng ta chỉ có thể học nó mất 10 phút với 2 dòng công thức. Và còn nhiều nhiều nữa những ví dụ xung quanh. Nếu không có những nghiên cứu như vậy, sự hiểu biết của xã hội chỉ có thể bước những bước rất ngắn. Gần hơn, nếu không có những nghiên cứu đàng hoàng về công nghệ mobiphone thì Việt Nam cũng chỉ dừng lại là một nước tiêu dùng.

Khi mà những lực lượng làm công việc trí óc có thể tạm gọi là tấng lớp ưu tú của xã hội còn nghĩ rằng nghiên cứu và phát triển là những thứ xa xỉ của Việt Nam. Thì mãi mãi Việt Nam chỉ có thể dừng chân là một nơi lắp ráp và là nhà máy sản xuất các bộ phận giản đơn của nhân loại.

Một điều ngạc nhiên nữa khi về Việt Nam, đó là sinh viên ngành ngân hàng không được học gì về kinh tế vi mô và vĩ mô một cách nghiêm túc. Kinh tế lượng (econometrics) lại càng không. Có cảm giác là những sinh viên ngành ngân hàng chỉ được đào tạo nghiệp vụ thực hiện các giao dịch cơ bản của ngân hàng thay vì là một chuyên viên kinh tế tài chính một cách nghiêm túc. Một ví dụ về cách ăn xổi ở thì của giáo dục.

Dĩ nhiên, nghiên cứu đòi hỏi những kinh phí rất lớn mà chỉ có nhà nước thông qua các viện và trường đại học hoặc những công ty lớn có thể đảm đương nổi. Nhưng trước hết đó là sự thay đổi tư duy và triết lý phát triển của toàn xã hội, bắt đầu bởi những nhóm người được gọi là có học thức nhất của xã hội. Cũng giống như một người đi đường đang cầm bản đồ, anh ta phải quyết định một hướng đi rõ ràng trước khi bắt đầu một cuộc hành trình dài và khó khăn. Hoặc là anh ta đến đích thành công hoặc là anh ta chỉ lẩn quẩn xung quanh.

3.2.10

Các Nguyên Tắc Nhằm Xây Dựng Thành Công Một Viện Nghiên Cứu: Mười Điều Răn


Assar Lindbeck
cựu giám đốc viện nghiên cứu kinh tế kinh tế thế giới (The Institute for International Economic Studies, IIES), Đại học Stockholm.

Nguyễn Huy Vũ dịch
(bản gốc: “Principles for Successful Research: Ten Commandments")

Đâu là phương pháp tốt nhất để điều hành một viện nghiên cứu ? Mỗi nghiên cứu viên chắc chắn có những ý kiến riêng về vấn đề này - chẳng hạn như những đòi hỏi, và chắc hẳn là định nghĩa thế nào là thành công. Những kinh nghiệm của riêng tôi trong suốt 25 năm với tư cách là người đứng đầu Viện Nghiên Cứu Kinh Tế Thế Giới ( the Institute for International Economic Studies, IIES) có thể tóm tắt trong mười nguyên tắc.

1. Một viện nghiên cứu nên cố gắng vươn đến những nghiên cứu cận biên (research frontier) của thế giới và, hẳn nhiên, góp phần đẩy biên nghiên cứu này xa hơn. Đây là cách hợp lý duy nhất làm nên sự xuất sắc trong nghiên cứu, và do đó, tránh được những nghiên cứu tầm thường, thậm chí chất lượng kém. Thật ra thì nghiên cứu chất lượng kém còn tệ hơn là không có nghiên cứu gì cả; vì hoạt động nghiên cứu chất lượng kém phát tán những nhận thức sai khiến các nhà nghiên cứu giỏi sau đó phải tốn thời gian để phản bác.

2. Để đạt được những tham vọng đó, điều quan trọng là phải công bố (các công trình nghiên cứu) trên bình diện quốc tế, đặc biệt là tại các tạp chí học thuật danh tiếng; từ đó, nghiên cứu được đánh giá bởi cộng đồng nghiên cứu thế giới. Bằng không thì có một nguy cơ rất lớn rằng tham vọng của các nghiên cứu viên chỉ gói gọn ở ảnh hưởng nội địa – vốn thấp hơn. Các lãnh đạo của một viện nghiên cứu rất khó mà ngăn các nghiên cứu tầm thường công bố nếu viện có một cơ quan xuất bản riêng. Chính vì lẽ đó mà IIES không có các cơ quan xuất bản riêng.

3. Sự có mặt của những nghiên cứu viên khách mời hàng đầu tại viện nghiên cứu rất quan trọng; việc này nhằm nhập thụ kiến thức và giúp tăng cường nỗ lực vươn lên bình diện quốc tế của Viện. Trong suốt thập niên 1970s khi chúng tôi chỉ thuần túy là một viện giảng dạy - nghiên cứu, một số những nghiên cứu viên viếng thăm thường ghé lại khoảng từ 6 tháng hoặc thậm chí một năm đóng vai trò cực kì quan trọng cho việc nâng cấp từ từ năng lực của chúng tôi. Ngày nay, khi mà Viện đã có 7 giáo sư (full professor) (khi so với một giáo sư trước năm 1984), tầm quan trọng của việc có những nghiên cứu viên khách mời ghé lại với những khoảng thời gian dài về mặt nào đó ít hơn.

4. Mỗi nghiên cứu viên tại những viện nghiên cứu có tiếng có xu hướng tự phát triển các liên kết nghiên cứu trên bình diện quốc tế cho riêng mình. Các chính trị gia và các nhà quản lý đại học thường tin rằng các mạng lưới nghiên cứu nên được tổ chức, chẳng hạn bằng các thỏa thuận và hợp đồng giữa các viện với nhau. Cách này, theo ý kiến của tôi, là một hướng tiếp cận sai. Các nghiên cứu viên khác nhau cần có các mối hợp tác quốc tế ở những nơi khác nhau trên thế giới, và các thỏa thuận chính thức giữa các đại học thường không hữu dụng trong việc tạo ra những liên kết này. Những hợp tác như vậy ,thay vào đó, có thể khởi động bằng một chuyến viếng thăm của một nghiên cứu viên nước ngoài, hoặc bởi một nghiên cứu viên đến một viện nghiên cứu ở nước ngoài. Những liên kết mang tính quốc tế thành công phản ánh thông qua mối quan hệ tương tác cá nhân khắng khít và ở những bài báo viết chung, thay vì giữa những thỏa thuận chính thức giữa các viện. Tham gia trong những dự án nghiên cứu và hội thảo tầm thế giới, cùng với việc tổ chức các hoạt động như vậy, là một cách khác để tham gia vào những mạng lưới kể trên. Hỗ trợ tài chính cho những hoạt động loại này là cách tốt nhất đối với các chính trị gia và các nhà quản lý giáo dục nhằm kích thích việc hợp tác nghiên cứu ở tầm thế giới.

5. Một điều quan trọng khác là nên tập trung các nguồn lực vào một số giới hạn các lĩnh vực nghiên cứu. Trong suốt 10 năm đầu, IIES tập trung chỉ vào một lĩnh vực duy nhất: lý thuyết kinh tế vĩ mô và chính sách kinh tế cho các nền kinh tế mở. Việc chọn một đề tài như vậy chủ yếu dựa vào khả năng làm mẫu (power of example). Điều này xảy ra khi tôi và một vài sinh viên đến Viện vào những năm đầu thập niên 1970 đặc biệt quan tâm đến lĩnh vực này; những nghiên cứu viên khác cùng quan tâm đến lĩnh vực này gia nhập Viện, và một sự điều phối các hoạt động nghiên cứu diễn ra như có một bàn tay vô hình thay vì bởi một kế hoạch rõ ràng. Sau đó, Viện đã lần lượt mở rộng tầm nghiên cứu tới một vài lĩnh vực mới, chẳng hạn như mậu dịch thế giới, kinh tế lao động, tổ chức công nghiệp, kinh tế phát triển, và tài chính thế giới, khi mà số nhân viên nghiên cứu gia tăng.

6. Nghiên cứu thành công cũng đòi hỏi khả năng có được một tiềm lực quyết định trong một hoặc vài lĩnh vực. Từ kinh nghiêm của tôi, điều này đòi hòi ít nhất nửa tá người trong mỗi lĩnh vực. Tiềm lực quyết định được định nghĩa, về mặt hoạt động, như là trường hợp khi mà có một xác suất lớn rằng một vài nghiên cứu viên tại Viện thật sự cảm thấy thích thú khi đọc những bản sơ thảo nghiên cứu của nhau. Các buổi thuyết trình cũng trở nên thú vị hơn nếu ít nhất ba hoặc bốn người cùng quan tâm đến cùng một lĩnh vực. Tần số hợp tác nghiên cứu giữa những nghiên cứu viên tại Viện là một chỉ số cho thấy một mức độ tương tác lớn đã đạt được hay chưa và do đó, có hay không một tiềm lực quyết định thật sự tồn tại. Từ cái nhìn đó, tín hiệu rất khích lệ khi mà nhiều thành quả nghiên cứu của Viện ngày nay bao gồm những công trình nghiên cứu viết chung. Sự hòa hợp giữa các thế hệ nghiên cứu – các nghiên cứu viên giàu kinh nghiêm (các giáo sư), nghiên cứu sinh sau Tiến sỹ, và nghiên cứu sinh - cũng rất hữu ích.

7. Một tương tác mạnh giữa nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu phương pháp luận, ở một mặt, và nghiên cứu ứng dụng, ở một mặt khác, là một yếu tố quan trọng cho sự thành công trong nghiên cứu. Viện chúng tôi lúc đầu thường bị chỉ trích ở Thụy Điển vì đã nhấn mạnh đến lý thuyết quá nhiều. “Việc chẳng ăn nhập gì” hay “nghiên cứu rỗi hơi” là những từ trỏ về chúng tôi từ một vị hiệu trưởng danh dự của một viện giáo dục Thụy Điển thiên về ứng dụng. Tuy nhiên, tầm quan trọng của một nền tảng đào tạo vững chắc về lý thuyết và phương pháp luận đã là một yếu tố chính nằm sau những đóng góp của Viện trong nghiên cứu ứng dụng. Không có một nền tảng lý thuyết và phương pháp luận vững chắc, nghiên cứu ứng dụng thường là tầm thường hoặc kém, và giảm chất lượng theo thời gian. Đôi khi, ngược lại, những nghiên cứu viên ứng dụng cho ra những kết quả khảo nghiệm quan trọng và đòi hỏi những nghiên cứu viên lý thuyết kiểm nghiệm lại tính liên quan về mặt thực nghiệm của những lý thuyết họ đã đưa ra.

8. Tuyển dụng là quyết định hành chính quan trọng nhất tại những viện nghiên cứu. Nếu việc tuyển dụng được thực hiện tốt, người giám đốc có thể tập trung vào công việc chính của mình – tạo ra một bầu không khí nhiệt tình (enthusiasm). (Đôi khi, ông cũng nên, dĩ nhiên, đề nghị những nghiên cứu viên đã mất đi sự tích cực nên chuyển sang những nơi khác.).Để duy trì việc quản trị hành chính ở mức thấp nhất, cần để mỗi người tự quản và phân phối những nhiệm vụ hành chính chung đến những thành viên khác nhau trong Viện. Nghiên cứu chất lượng cao đòi hỏi mỗi cá nhân được quyền tự chọn lĩnh vực và đề tài. Mệnh lệnh và những hệ thống cấp bậc không phù hợp với một môi trường nghiên cứu sáng tạo, nơi mà mỗi người là chủ của chính mình. Một điều quan trọng nữa là việc có những thư kí và phụ tá nghiên cứu giỏi – một điều mà Viện chúng tôi luôn nhấn mạnh. Ít nhất thì các vị khách nước ngoài hài lòng với những dịch vụ cơ bản của Viện.

9. Một viện nghiên cứu sẽ nhận được một thuận lợi lớn nếu nó là một phần của một trường đại học tốt. Điều này cho phép các khoa và ngành khác của trường đại học đóng góp vào những xung lực trí thức mới. Nó cũng cho phép có được một sự tương tác giữa nghiên cứu và giáo dục - vốn kích thích cả nghiên cứu viên và sinh viên. Những thành viên của IIES trong những năm gần đây đã tăng cường tham gia giảng dạy ở tất cả các cấp bậc của khoa Kinh Tế (trường Đại Học Stockholm). Chúng tôi cũng đã cố gắng thuyết phục các đồng nghiệp của chúng tôi trong các khoa khác về tầm quan trọng của việc những giáo sư, chính mình, tham gia giảng dạy cả ở những cấp bậc đại học và cao học.

10. Cuối cùng, một viện nghiên cứu cho ra những bài báo và cuốn sách không chỉ dành riêng cho cộng đồng nghiên cứu thế giới, mà còn cho quảng đại quần chúng quan tâm đến các vấn đề kinh tế. Điều này, thật ra, là một cách mà một viện nghiên cứu, vốn hoạt động nhờ tiền thuế, có thể trả ngược lại cho những người đóng thuế theo một cách khá trực tiếp và dễ nhận thấy. Những thành viên của Viện đã làm như thế - đưa ra các phân tích cho những vấn đề cả về các chính sách kinh tế cho Thụy Điển và kinh tế toàn cầu đương đại. Kinh nghiệm cho thấy rằng có thể làm được những đóng góp như vậy mà không lấy bớt đi nhiều thời gian dành cho nghiên cứu hàn lâm chừng nào mà các hoạt động này được duy trì như một lĩnh vực “tay trái”. Thực ra, việc theo dõi sát các thảo luận về các vấn đề chính sách kinh tế giúp các nghiên cứu viên tìm ra các đề tài phù hợp cho các nghiên cứu hàn lâm.

Stockholm, 03.02.2010
NHV

1.11.08

Tìm hiểu về Du Học

Vào một buổi chiều cách đây khoảng gần bảy năm, khi tôi - là một học sinh năm lớp 12 chuẩn bị thi đại học - đang học bài thì một người bạn cùng nhà chạy xuống kêu lên xem tivi về chương trình giới thiệu thông tin du học. Chương trình dẫn dắt bởi một truyền hình viên phỏng vấn ba bạn trẻ có cơ hội đang du học ở nước ngoài. Cũng như nhiều bạn học sinh khác, du học là một niềm đam mê không phải chỉ của riêng ai, mà hầu như học sinh nào cũng có, ít hay nhiều, và mãnh liệt hay không nó còn phụ thuộc vào khả năng và hoàn cảnh mà mỗi người thường tự đề ra cho mình. Du học bao gồm du và học, vừa đi du lịch và vừa học tập, ai mà chẳng thích đặc biệt là các bạn trẻ một thời như tôi. Ngoài chuyện bạn có cơ hội khám phá và hiểu biết về một vùng đất mới, trải nghiệm những văn hóa mới, bạn còn có cơ hội lấy được một mảnh bằng và nhiều kiến thức quý báu làm hành trang cho sự nghiệp tương lai của mình. Tôi chăm chú theo dõi cuộc phỏng vấn trên tivi với hi vọng có thêm thông tin về tìm kiếm học bổng để du học. Kết thúc chương trình, thông tin mà tôi có được là các bạn trẻ này kiếm được học bổng nhờ internet: tìm kiếm học bổng trên internet, rồi nộp đơn, phỏng vấn, nhận học bổng. Cách đây bảy năm, khi internet còn là một phương tiện xa xỉ đổi với một học sinh như tôi, và lúc đó tôi chưa biết sử dụng internet, mặc dù tôi là một học sinh ở một trường chuyên cấp tỉnh (Nha Trang - Khánh Hòa), những thông tin trên chỉ là những thông tin tham khảo, nó đến rồi đi, thậm chí không gây được cho tôi một cảm hứng nào đề bắt đầu đi tìm học bổng du học. Đơn giản bởi vì tôi không biết phải bắt đầu từ đâu và nên đi như thế nào. Ý muốn cung cấp các thông tin du học và các thông tin liên quan một cách vô vị lợi nhằm giúp các bạn trẻ đang tìm học bổng du học một thời như tôi đeo đuổi tôi mãi đến sau này tôi thành lập trang web www.lenduongduhoc.com. Trang web hoạt động được hơn một năm thì do bận công việc, đành đóng cửa, vả lại có nhiều trang web khác làm tốt hơn trong việc thu thập thông tin du học, do đó, tôi nghĩ cách tốt hơn là giới thiệu các trang này (trong phần Scholarship Links bên tay phải) đồng thời hướng dẫn thêm các bước cần thiết cho hành trình tìm học bổng du học đầy gian nan đối với nhiều bạn trẻ.

Để đạt được một mục tiêu, chúng ta ai cũng bắt đầu bằng ba bước:

- Chúng ta muốn gì ?
- Chúng ta đang có gì ?
- Và, chúng ta cần làm gì (để đạt được mục tiêu)?

Ở đây,
- Chúng ta muốn đi du học.
- Chúng ta đã có gì rồi ? Một tấm bằng loại khá trở lên ? Một chứng chỉ ngoại ngữ quốc tế ? Có thông tin về trường hoặc nước chúng ta muốn học chưa ?
- Chúng ta cần làm gì ? Nếu chúng ta có các điểm chính cơ bản trên, chúng ta chỉ việc nộp đơn và đợi. Xong. Tuy nhiên, nếu chưa có một trong các điều trên thì ta phải tìm kiếm, và công cụ quan trọng và hữu dụng nhất là internet.

Để tìm kiếm thông tin trên internet hiệu quả, bạn phải làm quen với việc dùng chương trình www.google.com để tìm kiếm thông tin một cách thành thạo và một khả năng ngoại ngữ tương đối tốt để lọc thông tin.

Thông thường, khi bắt đầu muốn du học, bạn chỉ có duy nhất một niềm tin. Tất cả các thông tin khác hầu như chỉ là con số không hoặc chỉ một ít, có được từ bạn bè hoặc người thân truyền lại, nhiều khi không chính xác.

Để bắt đầu, bạn phải định hướng trước bạn muốn chọn ngôn ngữ nào và nước nào cho khóa học của bạn. Sau đó, bạn tìm danh sách các trang web của các trường đại học, cao đẳng của nước đó, vào từng trang web của từng trường một, tìm khóa học của bạn, nếu ưng ý, nên tìm xem có các chương trình học bổng hỗ trợ cho các khóa học đó không, sau đó thì xem tiếp các điều kiện để nộp đơn cho khóa học, và thời hạn nộp đơn. Việc còn lại là bạn chuẩn bị hồ sơ theo các điều kiện, nộp đơn trước thời hạn và chú ý gửi đơn bảo đảm để tránh thất lạc.

Một trang web chuyên lưu trữ danh sách các trường đại học trên thế giới là: http://www.webometrics.info/

Một số kinh nghiệm là các ở các nước châu Âu thường cung cấp khá nhiều học bổng cho học sinh các nước đang phát triển, hoặc chỉ thu học phí với mức tượng trương. Một số nước như Phần Lan, Nauy, Đan Mạch, Thụy Điển có các chương trình giảng dạy bằng tiếng Anh cho cấp bậc đại học và sau đại học. Riêng học phí giáo dục tại Phần Lan, Nauy, Thụy Điển thì được miễn kể cả cho sinh viên quốc tế. Đan Mạch tuy không miễn học phí cho sinh viên quốc tế nhưng có các chương trình học bổng. Việc đi làm thêm cuối tuần có thể giúp bạn trang trải được cuộc sống.

Ở Á Châu, trong vòng vài năm gần đây, Singapore nổi lên như một địa điểm thu hút các sinh viên Việt Nam qua học. Hàng năm, hai trường đại học Nanyang Technological University và National University of Singapore thường tổ chức thi tuyển sinh viên tại Việt Nam. Sinh viên đậu được kì thi sẽ được cho vay (học phí và tiền ăn ở) để học hết khóa học, các sinh viên nổi bật trong kì thi sẽ được nhận học bổng. Để biết thêm chi tiết các bạn có thể tham khảo trên trang web của các trường trên.

Ngoài Nhật Bản, Úc, New Zealand, các nước như Hàn Quốc, Ấn Độ, Đài Loan, Trung Quốc cũng ngày càng thu hút thêm nhiều du học sinh Việt Nam.

Điều quan trọng đối với mỗi người là THỜI GIAN. Thời gian gắn liến với cơ hội. Cơ hội được đi học năm nay khác với cơ hội được đi học năm sau và thường đi càng sớm thì càng tốt, vì các trường nước ngoài thường bắt sinh viên phải học lại nếu bạn đang học dang dở đại học.

Lã Bất Vi làm thầy giáo cho Tần Thủy Hoàng lúc còn là một thiếu niên. Tần Thủy Hoàng nhiều lần thất bại khi đấu vật với một đối thủ và đâm sinh ra nản. Lã Bất Vi có một câu nói dạy cho Tần Thủy Hoàng: “con người hơn nhau là ý chí”. Tần Thủy Hoàng ngày đêm ràn luyện, cố gắng vận dụng mọi chiêu thức, kể cả chơi xấu để cuối cùng thắng được đối thủ của mình. Kể câu chuyện Tàu trên đây không phải bởi vì tôi “ngưỡng mộ” hai nhân vật lịch sử bên Tàu mà bởi vì câu nói trên của Lã Bất Vi rất đúng. “Con người hơn nhau là ý chí”, nếu bạn không có ý chí kiên cường quyết tâm đi du học thì vận may cũng khó đến.