Showing posts with label Trung Quốc. Show all posts
Showing posts with label Trung Quốc. Show all posts

27.3.22

Khi chiến lược ngoại giao đu dây sắp đứt

Bộ trưởng Bộ Tài chính của Hoa Kỳ Janet Yellen vừa đánh tiếng rằng những cấm vận kinh tế đối với Trung Quốc vào thời điểm này là chưa thích hợp.


Có hai hàm ý sau khi Janet Yellen phát biểu công khai điều này. Hàm ý thứ nhất đó là đã có các đề xuất trừng phạt bên trong nội các của chính quyền Mỹ, và Janet Yellen chọn cách công khai để tìm kiếm các đồng minh ủng hộ mình. Là bộ trưởng tài chính, Janet Yellen chịu một trách nhiệm lớn đối với tình hình kinh tế của quốc gia, bên cạnh chủ tịch Quỹ Dự trữ Liên bang Jerome Powell. Hàm ý thứ hai đó là nếu đây không phải là thời điểm thích hợp để áp đặt những cấm vận kinh tế đối với Trung Quốc thì có nghĩa là trong tương lai việc cấm vận Trung Quốc sẽ có thể là một lựa chọn ở một thời điểm thích hợp. 

1.9.21

Đại dịch và nhu cầu cải cách thể chế của Việt Nam

Bản đồ các vùng của Việt Nam.

Việt Nam đang đối mặt với một cuộc khủng hoảng dịch bệnh chưa từng có và cho đến nay chưa có dấu hiệu nào cho thấy khi nào cuộc khủng hoảng này sẽ kết thúc. 


Ở các tỉnh phía Nam xung quanh Sài Gòn, con số lây nhiễm diễn ra ngày càng tăng, hệ thống y tế đã quá tải từ lâu, và con số tử vong hiện đang ở mức kỷ lục là 4%, so với con số trung bình chưa tới 1% ở các nước khác. 


Ở phía Bắc, các ổ dịch lớn bắt đầu được phát hiện rải rác ở các khu vực của Hà Nội.


Những kinh nghiệm chỉ ra rằng, rất khó mà ngăn chặn sự lây lan của con virus Covid-19 với biến thể Delta trong môi trường Việt Nam. Và như vậy, dự kiến là trong những tuần tới, dịch bệnh sẽ tiếp tục lây lan mạnh ra tất cả các tỉnh thành, và đó là lúc hệ thống y tế và hành chính có thể đối mặt với sự sụp đổ.


Chính quyền trung ương lúc đó sẽ đối mặt với một sự bế tắc vì khó mà có thể giúp gì được cùng lúc cho tất cả các tỉnh thành. 

8.8.21

Đặng Tiểu Bình uốn "dòng sông xã hội chủ nghĩa"

Cuối năm 1978, Đặng Tiểu Bình dẫn một đoàn cán bộ cao cấp sang thăm Singapore. Chuyến viếng thăm như là một dịp rửa mắt cho các cán bộ trong phái đoàn của Đặng Tiểu Bình. Gọi là rửa mắt vì cho đến lúc này, triết lý kinh tế chính trị của Trung Quốc vẫn là hệ thống xã hội chủ nghĩa với nền kinh tế tập trung, được quy hoạch và quản lý bởi hệ thống nhà nước. 


Các cán bộ đảng Cộng sản Trung Quốc do đó chỉ được biết về sự ưu việt của tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Đối với họ, những người được “nhuộm đỏ lý tưởng”, rằng tư tưởng và hệ thống tư bản chủ nghĩa là một điều xấu xa, không phù hợp, và chắc chắn thất bại. Sau chuyến viếng thăm này, chính quyền Trung Quốc thường xuyên gửi các đoàn cán bộ đến học mô hình của Singapore. 

7.8.21

Chính trị giáo phái

Một đặc điểm chung mà các lãnh tụ cộng sản khởi nghiệp đều có đó là họ biến phong trào chính trị của họ thành một kiểu tôn giáo đặc trưng mà ta có thể gọi là chính trị giáo phái. 


Những lý thuyết chính trị được biên soạn, tuyên truyền, và truyền tay nhau như những cuốn thánh kinh, chỉ có đúng mà không có sai. 


Những người ủng hộ lãnh tụ như những tín đồ.


Còn những lãnh tụ được mô tả và xây dựng hình ảnh như là những đấng tối cao, tài năng xuất chúng, và là một hiện thân của đất trời nhằm cứu nguy dân tộc. 

6.8.21

Chiến lược vắc-xin của Tàu nhìn từ góc độ vĩ mô

Giữa tháng 6/2021, chính quyền Trung Quốc thông báo rằng hơn 1 tỉ liều vắc-xin của họ đã được tiêm cho toàn dân, và dự định là, với tốc độ tiêm trung bình 20 triệu liều một ngày, họ sẽ có được 40% dân số tiêm đầy đủ hai mũi trước cuối tháng 6. 


Với tốc độ tiêm 20 triệu liều một ngày, thì một tháng họ sẽ tiêm được khoảng 600 triệu liều vắc-xin. Điều này tương đương với việc 300 triệu người được tiêm đầy đủ 2 mũi. Với dân số 1,4 tỉ người, 300 triệu người này tương đương với 21% dân số. Như vậy,  chỉ nội trong tháng 7/2021, họ đã tiêm cho 300 triệu người, hay 21% dân số, với đầy đủ 2 mũi vắc-xin của mình.

Hãy nên dừng chích vắc-xin Tàu vì lợi ích quốc gia

Hải Phòng mới tung ra một văn bản đòi mượn 500 ngàn liều vắc-xin Sinopharm vero cell của Sài Gòn để tiêm cho dân ở đây. Song song đó là giới nhà báo thân chính quyền bắt đầu lên tiếng phụ hoạ rằng nếu Sài Gòn không tiêm loại vắc-xin Tàu này thì hãy chuyển cho Hải Phòng để chính quyền tiêm cho dân ở đó.


Có vài vấn đề để nói về câu chuyện này.

4.8.21

Để cái vắc-xin ngay miệng của mày đi

Giới đầu tư tài chính hay có câu cửa miệng đó là “put your money where you mouth is”. Dịch nghĩa đen là “đặt tiền vào ngay cửa miệng của mày đi”. 

Nhưng để hiểu nghĩa bóng thì phải để nó trong một bối cảnh. Bối cảnh đó thường là một tay bốc thơm về một loại tài sản đầu tư, cổ phiếu hay đất đai chẳng hạn. Anh ta bô bô tâng bốc về nó lên tận mây xanh và xúi người khác, một cách trực tiếp hay gián tiếp, đầu tư vào nó. 


Nhưng khi hỏi ngược lại anh ta rằng liệu mày có dám bỏ tiền túi của mày đầu tư vào đó hay không thì tay này thường chỉ bơ đi. Bởi trong thâm tâm của những người như vậy, họ biết là các sản phẩm đầu tư này chẳng đem lại lợi ích cho chính mình, thậm chí khiến mình phá sản, nên họ chỉ bô bô xúi người khác đầu tư mà thôi. 


Bởi vậy cho nên để xem lời nói của người ta có giá trị tới đâu, nó thực lòng đến đâu thì chỉ cần nói một câu: hãy đặt tiền của mày vào cửa miệng của mày đi, rồi hẵng nói. 

2.8.21

Việt Nam và Trung Quốc đang cạnh tranh chiến lược. Đừng nên tiêm vắc-xin của họ.

Thời Đông Chu Liệt Quốc bên Tàu, hai nước Ngô và Việt cạnh tranh chiến lược với nhau. Việt Vương Câu Tiễn trong lòng quyết chí chiếm lấy nước Ngô. 

Một lần, Việt Vương Câu Tiễn mượn thóc của nước Ngô để đem về gieo cấy. Đến khi trả thóc thì trước khi chuyển đến nước Ngô, Việt Vương cho người đem luộc hết thóc. Nước Ngô nhận thóc trả lại của nước Việt thấy hạt nào hạt nấy to mập, tưởng thóc tốt, nên đem gieo làm giống. Nhưng vì thóc đã luộc chín nên không nẩy mầm. Năm đó nước Ngô mất mùa, nhiều người chết đói, kinh tế suy sụp. 


Nước Ngô kinh tế suy sụp mà Ngô Vương Phù Sai lại đem quân chinh chiến khắp nơi khiến quân lực tiêu hao. Việt Vương nhân đó mà tấn công, cuối cùng thì đánh bại được Ngô Vương Phù Sai, xoá sổ nước Ngô. 


Đó là chuyện xưa. 

21.3.21

Lược sử quan hệ Mỹ - Trung trước khi Donald J. Trump nắm quyền


Mỹ bao vây, Trung Quốc nguy khốn


Cuối thập niên 1960s, Trung Quốc đang đứng trên bờ vực của sự nguy khốn. 


Mỹ đã bao vây và làm mọi thứ để suy yếu Trung Quốc trong gần 20 năm, kể từ khi Mao Trạch Đông thành lập nhà nước cộng sản ở Trung Quốc năm 1949 với lý do là Mỹ cho rằng Trung Quốc hung hăng và mang mộng bá quyền. 


Cụ thể, ở phía Tây Trung Quốc chiếm Tây Tạng. Ở phía Đông Bắc Trung Quốc ủng hộ quân cộng sản Bắc Triều Tiên tấn công Nam Triều Tiên. Ở phía Đông Trung Quốc lăm le tấn công Đài Loan. Và ở phía Nam thì ủng hộ các lực lượng cộng sản nhuộm đỏ các nước Đông Nam Á. 


Đáp lại, Mỹ thực hiện chính sách bao vây Trung Quốc từ bên ngoài và cố gắng lũng đoạn Trung Quốc từ bên trong. Ở phía Đông và Đông Nam, Mỹ đặt các căn cứ quân sự ở các nước đồng minh, gồm Nhật Bản, Nam Hàn, Đài Loan. Xa hơn về phía Nam, Mỹ thành lập khối SEATO gồm các nước Đông Nam Á không cộng sản. Xa hơn về Thái Bình Dương, Mỹ thiết lập hiệp ước ANZUS nhằm kết nối với hai nước Úc và New Zealand.


Tình báo CIA của Mỹ huấn luyện và giúp đỡ các lực lượng Tây Tạng chống lại quân cộng sản Trung Quốc. 


Mỹ cũng dàn dựng một cuộc cấm vận đứng sau Liên Hiệp Quốc để cấm tất cả các giao dịch thương mại, trao đổi văn hoá với Trung Quốc. 


Trong nội địa, cuộc cách mạng công nghiệp mang màu sắc xã hội chủ nghĩa có tên gọi Đại Nhảy Vọt đã làm phá sản nền kinh tế, gây ra nạn đói, và khiến Mao Trạch Đông mất hết uy tín. Mao buộc phải đạo diễn cuộc Cách mạng Văn hoá năm 1966 để củng cố quyền lực và đẩy đất nước vào cảnh hỗn loạn, gây ra cảnh đối đầu mạnh mẽ giữa các nhóm trong đảng Cộng sản Trung Quốc.


Ở biên giới trên đất liền, xung đột quân sự với Liên Xô diễn ra. Liên Xô đóng quân áp sát biên giới trong tình thế sẵn sàng tấn công. 


Lúc này Trung Quốc đối diện cùng lúc với hai kẻ thù bao vây mình, và Liên Xô đã thay thế Mỹ trở thành kẻ thù lớn nhất của Trung Quốc. 


Năm 1964, Trung Quốc phát triển thành công vũ khí hạt nhân sau vụ thử ở sa mạc Gobi, Tân Cương. 


Việc Trung Quốc thử nghiệm thành công vũ khí hạt nhân đã làm thay đổi sức mạnh cán cân quân sự, nghiêng hẳn về phe cộng sản. Và nếu Trung Quốc và Liên Xô hợp sức với nhau thì thế giới tự do chắc chắn bị đe doạ.


Mối lo lúc bấy giờ của Mỹ do đó là nhanh chóng tách Trung Quốc ra khỏi Liên Xô. Còn mối lo của Trung Quốc lúc này là hoà hoãn với Mỹ, phát triển kinh tế và quân sự để đối phó với Liên Xô. Trung Quốc cũng cần sự hỗ trợ của Mỹ, nhất là những tin tình báo, trong việc chống lại những áp lực từ Liên Xô. 


Song song đó, mối quan tâm của Mỹ còn là rút quân đội đang tham chiến ở Việt Nam về nước để cắt giảm chi phí chiến tranh, ổn định kinh tế trong nước, và nuôi dưỡng lực lượng phòng chuẩn bị cho cuộc chiến với Liên Xô. Mỹ cũng muốn Trung Quốc chấm dứt hỗ trợ các phe cộng sản lũng đoạn các nước đồng minh phi cộng sản ở Đông Nam Á. Hơn nữa, việc thiết lập một mối quan hệ với Trung Quốc để từ đó làm đòn bẩy trong các vấn đề phức tạp sẽ dễ dàng cho Mỹ hơn rất nhiều khi so với việc không có bất kỳ kênh liên lạc nào. 


Cả hai Mỹ và Trung Quốc vì lợi ích của mình mà hợp tác với nhau chống Liên Xô. 


Giai đoạn tiếp cận


Trong cố gắng thể hiện một mối quan hệ nồng ấm hơn, đội bóng bàn của Trung Quốc mời đội bóng bàn của Mỹ sang thăm vào tháng 4/1971. Các nhà báo Mỹ tháp tùng là những người phương Tây đầu tiên tới thăm Trung Quốc sau năm 1949. 


Tháng 7/1971, Ngoại trưởng Henry Kissinger bí mật thăm Trung Quốc để dàn xếp cho chuyến thăm của tổng thống Richard Nixon đến Trung Quốc một năm sau đó. Không lâu sau chuyến thăm của Henry Kissinger, Liên Hiệp Quốc công nhận Trung Quốc là thành viên Hội đồng Bảo An, thay cho vị trí của chính quyền Tưởng Giới Thạch hiện cố thủ ở Đài Loan vốn nắm giữ ghế này từ năm 1945. 


Tháng 2/1972, Tổng thống Richard Nixon có chuyến thăm 8 ngày đến Trung Quốc đánh dấu việc khởi đầu một giai đoạn mới trong quan hệ giữa hai nước. Tại đây, Nixon trao đổi với Mao Trạch Đông và cùng với thủ tướng Chu Ân Lai ký Thông cáo Thượng Hải. Thông cáo Thượng Hải đặt nền tảng cho đối thoại giữa hai nước trên một loạt các vấn đề phức tạp mà cả hai cùng quan tâm, trong đó đặc biệt là tình hình ở bán đảo Triều Tiên, cuộc chiến Việt Nam và tình hình bán đảo Đông Dương, và đặc biệt là Đài Loan. Hoa Kỳ cam kết tôn trọng chủ quyền của Trung Quốc ở Đài Loan và vấn đề Đài Loan là chuyện của người Hoa. Hoa Kỳ sẽ triệt thoái hết quân đội và khí tài ra khỏi Đài Loan và sẽ làm từ từ tuỳ tình hình ngày càng cải thiện. 


Quá trình bình thường hoá quan hệ giữa hai nước diễn ra khá chậm chạp và kéo dài gần cả thập kỷ.


Giai đoạn bình thường hoá


Năm 1979, Hoa Kỳ dưới quyền tổng thống Jimmy Carter đã đồng ý thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ với Trung Quốc. Để đạt được điều này, Hoa Kỳ đồng ý cắt bỏ mối quan hệ ngoại giao chính thức với Đài Loan, và lúc này Hoa Kỳ chỉ duy trì những mối quan hệ không chính thức với hòn đảo này.


Ngay sau đó, Phó Thủ tướng Đặng Tiểu Bình, một người đầy quyền lực đang dẫn dắt những cải cách kinh tế của Trung Quốc, viếng thăm Hoa Kỳ. 


Vào tháng 4, Quốc hội Hoa Kỳ thông qua dự luật Quan hệ Đài Loan (Taiwan Relations Act) cho phép tiếp tục duy trì các mối quan hệ thương mại và văn hoá giữa Hoa Kỳ và Đài Loan. Trong đó, Hoa Kỳ cam kết giúp Đài Loan khả năng tự vệ nhưng, một cách chính thức, không đi lệch khỏi chính sách Một Trung Quốc của mình. 


Dưới thời tổng thống Ronald Reagan, lo ngại trước sự bành trướng của Liên Xô, tổng thống Reagan cố gắng thắt chặt quan hệ với Trung Quốc. Trong khi đó, để trấn an Đài Loan, hiện đã là một nước phát triển phồn thịnh, chính quyền Reagan ký Sáu Cam Kết (Six Assurances) với Đài Loan. Nội dung của sáu cam kết này bao gồm: i) Hoa Kỳ không đưa ra ngày ngừng bán vũ khí cho Đài Loan; ii) Hoa Kỳ không thay đổi các điều khoản trong Luật Quan Hệ Đài Loan (Taiwan Relations Act); iii) Hoa Kỳ không tham vấn Trung Quốc trước khi bán vũ khí cho Đài Loan; iv) Hoa Kỳ không điều đình giữa Trung Quốc và Đài Loan; v) Hoa Kỳ không thay đổi thái độ về chủ quyền của Đài Loan, và rằng chuyện Đài Loan là chuyện của người Hoa với nhau và Hoa Kỳ không ép Đài Loan đàm phán với Trung Quốc; vi) Hoa Kỳ sẽ không chính thức công nhận chủ quyền của Trung Quốc ở Đài Loan. 


Khi đưa ra sáu cam kết với Đài Loan nhằm một cách trực tiếp trấn an và giúp đỡ sự độc lập của hòn đảo này, giới chức Hoa Kỳ đã lường trước từ lâu rằng rồi có ngày sau khi giải quyết xong chuyện Liên Xô, mối quan tâm của họ sẽ là Trung Quốc. Thêm một nước Đài Loan với kỹ thuật hùng mạnh, kinh tế phồn thịnh vào một nước Trung Quốc khác nào hổ mọc thêm cánh, và điều này khiến cho Hoa Kỳ khó mà đương đầu. 


Để lấy lại mối quan hệ với Trung Quốc sau khi trấn an Đài Loan, tổng thống Reagan thăm Trung Quốc vào tháng 4 và tháng 6 năm 1984, cho phép Hoa Kỳ bán vũ khí cho Trung Quốc. 


Đến tháng 6/1989 thảm sát Thiên An Môn diễn ra. Ngày 3/6/1989, chính quyền Trung Quốc cho quân đội vào càn quét quảng trường giết hại hàng trăm sinh viên. Hoa Kỳ chấm dứt chương trình bán vũ khí cho Trung Quốc và đóng băng mối quan hệ. 


Cuối năm 1991, Liên bang Xô Viết chính thức sụp đổ. Hoa Kỳ trở thành cường quốc duy nhất trên thế giới. Lúc này, sau gần 20 năm cải cách kinh tế và mở cửa, kinh tế Trung Quốc phát triển nhanh chóng và mở ra nhiều cơ hội đầu tư. Tổng thống Mỹ lúc bấy giờ là Bill Clinton bắt đầu chính sách “tiếp cận mang tính xây dựng (constructive engagement)” với Trung Quốc nhằm mở đường cho việc gia tăng đầu tư và thương mại với Trung Quốc, song song đó khuyến khích Trung Quốc trở thành một đối tác toàn cầu. Trung Quốc lúc này trở thành một thị trường tiềm năng của thế giới. 


Tháng 3/1996, Đài Loan tổ chức bầu cử tổng thống dân chủ đầu tiên và Lý Đăng Huy của Quốc Dân Đảng, một người gốc Đài Loan và chủ trương Đài Loan độc lập, đã thắng cử mặc dù Trung Quốc thử tên lửa đe doạ cử tri đừng bầu cho ứng cử viên ủng hộ sự độc lập của Đài Loan. 


Ngừng một chút để nói sơ về lịch sử hiện đại Đài Loan. Sau khi Tưởng Giới Thạch dẫn tàn quân chạy ra đảo, ông đã ra tay thanh trừng toàn bộ các quan chức được cho là tham nhũng, thực hiện các cải cách kinh tế và cai trị Đài Loan bằng bàn tay sắt về chính trị. Kinh tế Đài Loan sau đó nhanh chóng phát triển. Tới thời Tưởng Kinh Quốc, chính trị từng bước được nới lỏng để tới khi Lý Đăng Huy cầm quyền, ông đã cho tổ chức cuộc bầu cử tổng thống dân chủ đầu tiên, chính thức hình thành chế độ dân chủ cho Đài Loan.  


Tháng 10/2000, trong nỗ lực thúc đẩy quan hệ thương mại sâu rộng hơn với Trung Quốc và mở ra kỷ nguyên toàn cầu hoá, tổng thống Bill Clinton ký Luật Quan hệ Hoa Kỳ - Trung Quốc (US-China Relations Act) cho phép Bắc Kinh có mối quan hệ thương mại bình thường vĩnh viễn với Mỹ, mở đường cho Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). 


Kể từ năm 1980, khi các cấm vận đối với Trung Quốc dần được dỡ bỏ, cho đến năm 2004, thương mại hai chiều Mỹ - Trung Quốc đã tăng từ 5 tỉ lên 231 tỉ đô la, và năm 2006 Trung Quốc trở thành đối tác thương mại thứ hai thế giới của Mỹ, sau Canada.


Đến tháng 9/2008, Trung Quốc trở thành chủ nợ lớn nhất của Mỹ, nắm giữ khoảng 600 tỉ đô la trái phiếu chính phủ Mỹ. 


Đến tháng 8/2010, Trung Quốc trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, qua mặt Nhật Bản. GDP của Trung Quốc là 5,88 ngàn tỉ đô-la khi so với GDP của Nhật là 5,47 ngàn tỉ đô-la vào đầu năm 2011. Lúc này, giới chuyên gia kinh tế dự đoán Trung Quốc sẽ vượt Hoa Kỳ để trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới trước năm 2027.


Song song với sức mạnh kinh tế đi lên của Trung Quốc, Trung Quốc đầu tư mạnh mẽ vào quân đội. Từ năm 1990 cho đến 2005, trung bình mỗi năm Trung Quốc tăng chi tiêu quốc phòng 15%. Riêng năm 2007, Trung Quốc tăng lên 18%, tổng trị giá hơn 45 tỉ đô la Mỹ. Đó là con số công bố công khai. Con số thực có lẽ lớn hơn nhiều.


Mỹ bắt đầu lo ngại. Năm 2007, trong chuyến thăm châu Á, Phó Tổng thống Dick Cheney tuyên bố việc tăng cường đầu tư quân sự của Trung Quốc không phù hợp với mục tiêu trỗi dậy hoà bình. Đáp lại, Trung Quốc bảo việc tăng đó chỉ là giúp đào tạo tốt hơn, tăng lương bổng cho lính để bảo vệ an ninh quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ. 


Trong khoảng thời gian này, Mỹ vẫn theo dõi sát sao Trung Quốc. Cuộc đụng độ của máy bay do thám Mỹ với chiến đấu cơ của Trung Quốc vào tháng 4/2001 khiến một phi công của Trung Quốc chết và buộc máy bay Mỹ cùng phi hành đoàn phải hạ cánh khẩn cấp xuống đảo Hải Nam là một ví dụ. 


Tuy vậy, trên bình diện ngoại giao, Mỹ vẫn kêu gọi Trung Quốc trở thành một đối tác có trách nhiệm và dùng ảnh hưởng của mình để giải quyết các vấn đề quốc tế như Sudan, Bắc Triều Tiên, và Iran. 


Chính quyền tổng thống Barack Obama chuyển trục về châu Á


Tháng 11/2011, sau khi giải quyết các hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính và khi nền kinh tế Mỹ dần hồi phục, chính quyền của tổng thống Obama bắt đầu chuyển trục về châu Á nhằm đối phó với Trung Quốc. 


Ngoại trưởng Hillary Clinton kêu gọi tăng cường đầu tư, cả về ngoại giao, kinh tế, chiến lược, và những thứ khác ở châu Á để đối chọi lại Trung Quốc. 


Trong tháng đó, tổng thống Obama cũng tuyên bố Mỹ với 8 quốc gia đã đạt được thoả thuận Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (Trans Pacific Partnership, viết tắt là TPP). Nỗ lực của Hiệp định là chuyển các mắc xích trong hệ thống chuỗi sản xuất toàn cầu từ chỗ chủ yếu tập trung ở Trung Quốc sang các nước đồng minh trong hệ thống TPP. Nó trước mắt làm giảm sự phụ thuộc của Mỹ vào Trung Quốc về thương mại. Và sau đó nó sẽ giúp các đồng minh Mỹ mạnh lên về thương mại, và từ hợp tác kinh tế chuyển thành hợp tác an ninh như là một mạng lưới đồng minh nhằm đối chọi lại với Trung Quốc


Tổng thống Obama sau đó tuyên bố lên kế hoạch triển khai 2.500 lính thuỷ đánh bộ tới Úc, và dĩ nhiên bị Trung Quốc chỉ trích. Trung Quốc chỉ trích vì họ thấy Mỹ bắt đầu triển khai kế hoạch bao vây mình như năm xưa. 


Tháng 11/2012, Đại hội Đảng Toàn quốc của Trung Quốc lần thứ 18 kết thúc với việc thay thế tới 70% các thành viên trong các cơ quan đầu não lãnh đạo đất nước. Lý Khắc Cường làm thủ tướng. Tập Cận Bình làm chủ tịch nước, tổng bí thư, và chủ tịch quân uỷ trung ương. Các lãnh đạo mới, trẻ hơn của Trung Quốc bắt đầu dẫn dắt đất nước mình vào một kỷ nguyên mới.


Ngày 7-8/6/2013, tổng thống Obama mời chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình sang hội kiến trong một hội nghị cấp cao ở Sunnylands Estate, California nhằm xây dựng mối quan hệ cá nhân để giải quyết các bất đồng. Tổng thống Obama cố tình tổ chức buổi hội nghị cấp cao này dưới dạng thân mật, các bên chỉ mặc áo sơ mi. Cả hai cùng cam kết hợp tác giải quyết các vấn đề song phương và toàn cầu, trong đó gồm biến đổi khí hâu và Bắc Triều Tiên. 


Ngày 12/11/2014, bên lề Hội nghị Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương, tổng thống Barack Obama và chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình cùng đưa ra thông cáo chung về biến đổi khí hậu và hứa cắt giảm khí carbon. 


Trong khi đó, Hoa Kỳ cũng bắt đầu trở nên cứng rắn hơn với Trung Quốc. Ngày 19/5/2014, Hoa Kỳ bỏ tù 5 tin tặc (hacker) của Trung Quốc, cáo buộc họ ăn cắp công nghệ và có liên hệ với quân đội Trung Quốc. Trung Quốc ngay lập tức ngừng việc hợp tác với Hoa Kỳ trong nhóm làm việc chung về an ninh mạng. Vào tháng 6/2015, Hoa Kỳ phát hiện rằng các tin tặc Trung Quốc lại đột nhập vào hệ thống của Văn phòng Quản lý Nhân sự (Office of Personnel Management) và ăn cắp dữ liệu của 22 triệu nhân viên liên bang đã nghỉ hoặc đương chức. 


Trong suốt nhiệm kỳ của tổng thống Barack Obama, Trung Quốc liên tục cơi nới các đảo và quân sự hoá chúng trên biển Đông. Ngày 30/5/2015, tại Đối thoại Shangri-La lần thứ 14 về an ninh châu Á, Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Ashton Carter kêu gọi Trung Quốc ngừng những nổ lực cải tạo và quân sự hoá các đảo. Hoa Kỳ tung ra bằng chứng là các ảnh vệ tinh chụp các quân cụ có mặt trên các đảo. Đáp lại Trung Quốc cho rằng việc xây dựng chỉ nhằm mục đích dân sự. 


Như vậy, kể từ cuối nhiệm kỳ đầu tiên của tổng thống Obama, giới chính trị Hoa Kỳ bắt đầu ý thức về sự trỗi dậy của Trung Quốc và bắt đầu e sợ. Chiến lược của nội các tổng thống Obama lúc này là bắt đầu định hướng phối trí quân đội về châu Á, xây dựng các chuỗi đồng minh và chuỗi hệ thống cung ứng mới nhằm tránh phụ thuộc vào Trung Quốc. Song song đó, tổng thống Barack Obama cố tình kết thân với chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình nhằm tạo ra một mối quan hệ hữu hảo đặng dàn xếp và thương lượng các vấn đề quốc tế. Tuy vậy, những nỗ lực của nội các tổng thống Barack Obama chưa có nhiều chuyển biến, nỗ lực xoay trục về châu Á vẫn còn mờ nhạt. 


Nguyễn Huy Vũ

7.2.2021

13.1.21

Trung Quốc và Hoa Kỳ, cuộc chạy đua của hai siêu cường



Sau Thế chiến thứ Hai, Hoa Kỳ nổi lên như một cường quốc đứng đầu thế giới với năng lực vượt trội. Trong suốt hơn 70 năm sau đó, thế giới tương đối hoà bình, ngoại trừ vài cuộc chiến uỷ nhiệm giữa hai phe tư bản và cộng sản, đã giúp cho các nước vốn có tiềm lực thời gian để vươn mình trở lại cuộc đua giành ngôi vị cường quốc thế giới. 


Đức và Nhật nhờ vốn con người còn nguyên vẹn cùng sự giúp đỡ của Mỹ đã nhanh chóng hồi phục và trở thành những cường quốc. Tuy vậy, cùng với Anh, Pháp, và Ý, Đức và Nhật tuy trình độ công nghệ đã gần như bắt kịp Hoa Kỳ nhưng vì hạn chế về dân số, chỉ khoảng bằng một phần ba dân số của Mỹ, nên tiềm lực kinh tế và quốc phòng tổng thể của mình không thể nào đọ được với Hoa Kỳ. Tương tự, nước Nga với diện tích rộng lớn nhưng thưa dân, bị cô lập bởi phương Tây, nên chỉ dừng lại như một cường quốc khu vực. 


Hai nước có dân số hơn hẳn Hoa Kỳ đó là Ấn Độ và Trung Quốc. Ấn Độ là một nước dân chủ, đa sắc tộc, đa tôn giáo. Trong lịch sử đó là một lục địa của các tiểu vương quốc. Các tiểu vương quốc thường xuyên đánh nhau và do vậy mà Ấn Độ, vì các yếu tố nội tại của mình, chưa bao giờ có tư tưởng bá quyền. Trung Quốc ngược lại đã thống nhất thành một quốc gia có tổ chức, kỷ luật và kỷ cương từ rất sớm kể từ thời nhà Hán hơn 200 năm trước Công nguyên. Nhờ ở sự thống nhất và tập quyền đó mà sự lớn mạnh của các triều đại phong kiến Trung Quốc đi kèm với nó là tư tưởng bá quyền và đòi hỏi sự thần phục của các nước lân bang. 


Với dân số gần một tỉ bốn trăm triệu dân, tức gấp hơn bốn lần dân số của Hoa Kỳ vốn chỉ gần 330 triệu, nếu Trung Quốc đạt được một trình độ phát triển ngang Hoa Kỳ thì đồng nghĩa tiềm lực kinh tế và quốc phòng của họ sẽ gấp bốn lần Hoa Kỳ. Với lợi thế về dân số đông và hệ thống chính trị tập quyền, Trung Quốc chỉ cần đạt được một trình độ phát triển tương đối, không cần ngang bằng với Hoa Kỳ, là đã đủ để họ cạnh tranh với Hoa Kỳ. 


Vấn đề của các lãnh đạo Hoa Kỳ hiện nay là làm sao để Hoa Kỳ tiếp tục duy trì vị trí lãnh đạo số một thế giới về cả kinh tế và quốc phòng. Kinh tế đi đôi với quốc phòng, vì với một nước có nền kinh tế mạnh họ dễ dàng đầu tư phát triển quốc phòng ngày càng mạnh hơn, dùng đòn bẩy kinh tế để đưa ra các định chế giao dịch trong kinh tế khiến các nước phụ thuộc, và sự giàu hơn của ngân sách giúp họ chi nhiều hơn để hỗ trợ các đồng minh và xây dựng các mối quan hệ mới. 


Trong cuộc chạy đua giữ vị trí siêu cường mà Trung Quốc đang đuổi theo rất sát ở phía sau, Hoa Kỳ dưới thời tổng thống Donald Trump đã thực thi một loạt các chính sách.


Đầu tiên là về nhân lực. Một quốc gia muốn hùng cường phải đầu tư vào nhân lực của xứ mình. Để đầu tư vào nhân lực, trước hết Hoa Kỳ phải kiểm soát dân số và tình trạng nhập cư lậu. Và để giảm tình trạng nhập cư lậu thì chính quyền cho xây tường dọc biên giới Mỹ và Mê-hi-cô. Tiếp theo, chính quyền cho gỡ bỏ chương trình quay số ngẫu nhiên để cấp thẻ định cư và chuyển sang thúc đẩy chương trình định cư cho nhân tài, những người có trình độ. 


Chính quyền Mỹ cố gắng chấm dứt những cuộc chiến tốn kém kéo dài vô bổ, tập trung ngân sách cho thành lập lực lượng không gian và đầu tư mạnh hơn nữa vào quốc phòng.  


Ở châu Âu, Hoa Kỳ kêu gọi lẫn làm áp lực để các đồng minh NATO tăng ngân sách quốc phòng lên ít nhất là 2% tổng thu nhập quốc dân (GDP) như cam kết trước đây nhằm làm cho liên minh mạnh hơn. 


Ở châu Á, Hoa Kỳ chính thức thực hiện chiến lược xoay trục về châu Á, một chiến lược mà thời tổng thống Barack Obama mới chỉ dừng ở mức ý tưởng và thăm dò các đồng minh. Hoa Kỳ thiết lập và dẫn đầu liên minh Ấn Độ - Thái Bình Dương nhằm bao vây Trung Quốc. Trong liên minh này, ngoài Mỹ, Ấn Độ, Nhật Bản, và Úc là nhóm cứng, sẽ có thêm Việt Nam và Indonesia là hai thành viên không chính thức. 


Trong nội địa, chính quyền Mỹ cho đóng cửa các viện Khổng Tử, lấy lý do là các viện này vừa là cơ quan giúp thu thập tin tình báo vừa là cơ quan tuyên truyền cho đảng Cộng sản Trung Quốc. Từ chỗ có hơn 100 viện Khổng Tử khi bắt đầu nắm quyền, cuối nhiệm kỳ của tổng thống Donald Trump, số viện Khổng Tử giờ chỉ còn chưa tới 60 viện. 


Mỹ cũng cho đóng cửa lãnh sự quán ở Houston vì cho rằng đây là đầu não chỉ huy lực lượng tình báo ăn cắp công nghệ. 


Cùng lúc, chính quyền Mỹ cũng bắt đầu ra soát và chặn các sinh viên đội lốt quân đội sang du học nhằm mục đích ăn cắp công nghệ cho quân đội Trung Quốc. Bắt các học giả, các trường đại học khai báo các ngân khoản được tài trợ bởi nước ngoài nhằm tránh việc nước ngoài ăn cắp công nghệ của Hoa Kỳ. 


Về kinh tế, chính quyền kêu gọi các công ty Mỹ ở Trung Quốc quay về sản xuất ở Mỹ. 


Mục tiêu trước mắt là giúp tạo công ăn việc làm cho dân Mỹ. Nhưng mục tiêu lâu dài hơn đó là tránh để các công ty Tàu ăn cắp công nghệ cũng như không cho công nhân Tàu học thao tác sản xuất công nghiệp theo công nghệ. 


Việc sản xuất ở Mỹ cũng giúp cho Mỹ không còn phụ thuộc vào Trung Quốc nữa, và như vậy sẽ làm yếu đi đòn bẩy về thương mại của Trung Quốc đối với Hoa Kỳ. 


Để khuyến khích các công ty Mỹ quay về Mỹ sản xuất, đầu tiên chính quyền cho giảm thuế doanh nghiệp. Tiếp theo đó chính quyền cho đánh thuế lên một số mặt hàng nhập khẩu từ Trung Quốc. Song song đó là tạo ra một bầu không khí rằng chiến tranh thương mại không hồi kết và khuyến khích các doanh nghiệp dịch chuyển khỏi Trung Quốc. 


Làm mọi cách để khiến các nước đồng minh không dùng công nghệ viễn thông 5G của Huawei và chặn Huawei trước khi nó trở thành một công ty công nghệ viễn thông khổng lồ có khả năng kiểm soát thế giới.


Tuy vậy, các biện pháp này chỉ có thể giúp Hoa Kỳ duy trì được ưu thế siêu cường trong một thời gian ngắn hạn, có thể chỉ chừng hơn 10 năm nữa. Với lợi thế về dân số và có một chính thể tập quyền được tổ chức tốt, nếu không có gì thay đổi, việc Trung Quốc vượt mặt Hoa Kỳ về khả năng kinh tế và quốc phòng là điều thấy được. 


Dân chủ hoá Trung Quốc để Trung Quốc trở thành một quốc gia văn minh và có trách nhiệm là một ý kiến hời hợt. Muốn xem một Trung Quốc dân chủ sẽ như thế nào thì cách tốt nhất là nhìn Đài Loan. Một Trung Quốc với dân số gấp bốn lần Hoa Kỳ, dân chủ và phát triển như Đài Loan tự bản thân nó đã trở thành siêu cường với tiềm lực kinh tế và quốc phòng gấp vài lần Hoa Kỳ. Hoa Kỳ và phương Tây còn lâu mới thần phục và chấp nhận phương án này.


Chọn lựa duy nhất của các nhà làm chính sách Hoa Kỳ mà bất kỳ một học giả nào cũng có thể thấy được đó là một ngày nào đó Hoa Kỳ sẽ phải cố gắng tách Trung Quốc ra thành những quốc gia nhỏ hơn. Nhưng để làm được điều đó thì đồng nghĩa với việc Hoa Kỳ và các đồng minh phải đủ mạnh hơn Trung Quốc. Nhưng còn bao lâu để Hoa Kỳ có thể đủ mạnh, có lẽ chỉ chừng 10 năm nữa. 


Nguyễn Huy Vũ

20.10.2020


*Bài viết đã lược bỏ đi những số liệu để tránh mất đi sự tập trung cho ý chính. 

11.7.18

Chết dưới tay Trung Cộng


Ai chết? Chính là đảng Cộng sản Việt Nam. Tại sao?

Thứ nhất, các lãnh đạo cộng sản Việt Nam bằng việc thắt chặt mối quan hệ với đảng Cộng sản Trung Quốc, thi hành một mô hình kinh tế - chính trị như là một phiên bản thu nhỏ của Trung Quốc, cùng với nó là thể hiện quan điểm ngoại giao trên trường quốc tế tương tự như Trung Quốc, làm như vậy người trong nước và kể cả người nước ngoài sẽ nhìn các lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam như là một tay sai và chư hầu của đảng Cộng sản Trung Quốc. Trên thế giới, và cả trong nước, người ta không ưa đảng Cộng sản Trung Quốc thì nghiễm nhiên họ ghét lây và cô lập cả đảng Cộng sản Việt Nam.

4.7.18

Quảng Ninh hối sớm sáp nhập kinh tế với Trung Quốc


Bản tin trên VTC (1) mở đầu bằng việc chiều ngày 2/7/2018, tại hội nghị trực tuyến chính phủ với các địa phương, Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh Quảng Ninh là Nguyễn Đức Long đã hối trung ương sớm thông qua luật đặc khu kinh tế và đẩy nhanh tiến độ kết nối kinh tế giữa thành phố Móng Cái của Quảng Ninh với thành phố Đông Hưng của Trung Quốc.

Ông chủ tịch tỉnh Nguyễn Đức Long kiến nghị với trung ương ba vấn đề, nguyên văn như sau:

31.5.18

Hiệp định Thành Đô là có thật!


“Hiệp định Thành Đô là có thật. Chúng nó bán nước thật rồi em ạ!” Anh nói rõ ràng từng tiếng một và lý giải cho quyết định bán hết nhà cửa của mình ở Việt Nam để quay lại nước ngoài.

Anh là bạn tôi. Một người bạn vong niên. Thuộc lớp người được đào tạo bài bản ở phương Tây, từng đảm nhiệm các chức vụ khác nhau trong các cơ quan quốc tế và khi về Việt Nam đã có dịp làm việc và cố vấn ở các bộ ngành, được tiếp cận và đóng vai trò tư vấn cho cả thủ tướng chính phủ.

18.4.18

Chiến tranh tiền tệ Hoa Kỳ - Trung Quốc?

Liệu chính quyền Trump sẽ tiến hành một cuộc chiến tranh tiền tệ để đánh thẳng vào Trung Quốc theo sau cuộc chiến thương mại?

Trong những năm rồi Trung Quốc cố gắng khuếch trương việc sử dụng đồng nhân dân tệ làm phương tiện thanh toán khắp thế giới bằng nhiều cách khác nhau như phát triển mạng lưới các ngân hàng dùng đồng nhân dân tệ, dùng các chế độ ưu đãi cho các thanh toán đồng nhân dân tệ với các ngân hàng, hoán đổi nhân dân tệ với các ngoại tệ đối với các ngân hàng nước ngoài, thậm chí lập ra cả một giao dịch tương lai về dầu (oil futures) định giá bằng đồng nhân dân tệ; và mục tiêu của việc khuếch trương này là nhằm hất cẳng đồng đô-la Mỹ khỏi vị trí thống trị thế giới để thay thế bằng đồng nhân dân tệ.

24.3.18

Việt Nam có thể thắng Trung Quốc hay không?

Cuối cùng, như dự đoán bởi nhiều người, Hà Nội đã ra lệnh rút quân và rút cả dàn khoan dầu ra khỏi bãi Tư Chính, nằm trong vùng đặc quyền của Việt Nam.


Trung Quốc biết rằng giới cầm quyền Hà Nội rất sợ chiến tranh và chừng nào mà Trung Quốc không tấn công trực diện làm lung lay chiếc ghế của các nhà cầm quyền cộng sản thì chỉ cần đe dọa một cuộc xung đột vũ trang là đã đủ khiến giới cầm quyền ở Hà Nội nhượng bộ.


Tại sao giới cầm quyền Hà Nội sợ chiến tranh thì nhiều người đã hiểu. Đó là khi một cuộc xung đột vũ trang diễn ra, giới cầm quyền Hà Nội không chắc sẽ kiểm soát được tình hình trong nước, khi mà dưới sự phẫn nộ của người dân và các nhóm trong quân đội, không chắc gì họ để yên cho các cấp cầm quyền ở Hà Nội, đặc biệt là khi mà họ cảm thấy các cấp lãnh đạo không có khả năng. Những nhà cầm quyền ở Hà Nội khó khăn lắm mới có được những vị trí như vậy, và họ không muốn mất đi. Và khi mà nhân dân có thể áp lực họ ra đi thì nhân dân cũng có thể áp lực đưa Đảng Cộng sản ra khỏi vị trí cầm quyền. Trung Quốc hiểu điều đó nên họ chỉ cần đe dọa tấn công Trường Sa là đã đủ để giới cầm quyền Hà Nội nhượng bộ.

Tại sao Hà Nội nhượng bộ Bắc Kinh?

Dưới đe dọa của Trung Quốc, Việt Nam đã yêu cầu công ty Talisman-Việt Nam, công ty con của tập đoàn Repsol của Tây Ban Nha, dừng khoan dầu tại bãi Tư Chính, thuộc vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Có một câu hỏi mà có lẽ nhiều người thắc mắc đó là tại sao Hà Nội lại nhượng bộ Bắc Kinh đến vậy và đâu là những lo ngại của Hà Nội khi đưa ra quyết định này?


Nên nhớ rằng đối diện với một ngân sách trống rỗng, giới lãnh đạo cộng sản buộc phải tìm một nguồn thu khác để bổ sung. Tăng khai thác dầu mỏ là một lĩnh vực tiềm năng và có thể nói là duy nhất. Hà Nội có thể tăng thuế xăng dầu để tăng thu ngân sách, nhưng việc tăng thuế xăng dầu sẽ nhanh chóng đẩy lạm phát tăng vọt, khiến mất kiểm soát sự ổn định kinh tế vĩ mô và đưa nền kinh tế đi sâu hơn vào khủng hoảng. Những nguồn thu khác đều giới hạn và khó có thể giúp gì được cho ngân sách Việt Nam trong lúc này. Bạn đọc có thể tham khảo bài «Việt Nam trên bờ vực sụp đổ» mà tác giả đã viết từ đầu năm và vẫn còn nguyên tính thời sự (xem ở cuối bài).


Trở lại câu hỏi rằng trong tình trạng ngân sách khó khăn như vậy, những nguyên nhân nào khiến Hà Nội phải nhượng bộ Bắc Kinh và trở nên bối rối như vậy. Dưới đây là vài lý giải.

Sự cô đơn của Hà Nội

Trên trang Facebook của mình, nhà báo Huy Đức (Trương Huy San) viết bài “REPSOL có thể phải ngưng hai mũi khoan ở bãi Tư Chính 136/3” với nguyên văn như sau:

“Lô 136/03 mà các bạn nhìn thấy trên bản đồ này là nơi thuộc chủ quyền của Việt Nam: Bãi Tư Chính. Nhưng, nó cũng là nơi, đường lưỡi bò của Trung Quốc liếm qua và Bắc Kinh gọi đó là Vạn An Bắc 21. Cả VN và TQ đều coi đây là vùng "chủ quyền không thể tranh cãi" của mình. Việc Hà Nội cho Repsol khoan thăm dò ở lô 136/03 không chỉ như một dự án khai thác dầu - khí đơn thuần mà còn như để khẳng định chủ quyền của VN ở vùng biển này.

Nhưng, ngày mai, thứ Hai, 24-7-2017, có thể Repsol sẽ phải ngưng mọi hoạt động ở đây vì các sức ép đến từ Trung Quốc.

Hai mũi khoan được bắt đầu vào ngày 18-6-2017, đúng ngày Phó chủ tịch Quân ủy Trung Quốc Phạm Tường Long tới Hà Nội. Tướng Phạm Tường Long khi đó đã bỏ về, BK triệu hồi đại sứ, đòi đàm phán ở cấp cao và đưa gần 200 tàu xuống bãi Tư Chính nhưng Hà Nội vẫn để Repsol duy trì các hoạt động khoan thăm dò.

Nhưng lần này thì có vẻ như Hà Nội đang đơn độc.”

Câu hỏi là tại sao lần này Hà Nội đơn độc?

Hậu quả của việc rút giàn khoan

Việc rút quân và giàn khoan ra khỏi bãi Tư Chính của Việt Nam để lại nhiều hệ quả quan trọng ngay trước mặt và lâu dài cho Việt Nam cả ở ba mặt trận kinh tế, an ninh và ngoại giao.

Thứ nhất, đó là Việt Nam phải đền bù cho những chi phí bỏ ra của Talisman-Việt Nam, công ty con của tập đoàn Repsol, Tây Ban Nha. Repsol đã bỏ ra khoảng 300 triệu đô-la Mỹ cho chi phí hạ tầng, và để đền bù, Việt Nam phải trả ít nhất là con số này cộng thêm các khoản phí liên quan khác.

Thứ hai, việc rút quân tạo ra một tiền lệ rằng Việt Nam không thể bảo vệ những đặc quyền kinh tế trong vùng lãnh hải của mình, và khó mà Việt Nam có thể thuyết phục các nhà khai thác tài nguyên khác đến khai thác trong vùng lãnh hải của Việt Nam trong tương lai. Việc không thể khai thác tài nguyên trong vùng đặc quyền kinh tế của mình khiến Việt Nam bỏ đi những nguồn lợi vô cùng to lớn ở đây.

Thứ ba, đứng trước hoàn cảnh ngân sách quốc gia gần như cạn kiệt và các mỏ dầu khí gần bờ đã đến tuổi và bão hòa, Việt Nam có nhu cầu kiếm thêm các nguồn tài nguyên mới. Dầu khí là một nguồn thu quan trọng đóng góp tới 20% ngân sách quốc gia, nhưng trong một trường hợp phong tỏa như vậy, cơ hội để cứu vãn ngân sách quốc gia nhờ dầu khí dường như đã đóng lại.

11.3.18

Việt Nam giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc

Ngày 5/3, hàng không mẫu hạm USS Carl Vinson của Hoa Kỳ viếng thăm Việt Nam đánh dấu một bước mới trong mối quan hệ giữa hai cựu thù Việt Nam và Hoa Kỳ. Gần một năm rưỡi sau khi cầm quyền, chính sách quốc phòng và ngoại giao của chính quyền tổng thống Donald Trump dần định hình. Về mặt cơ bản, chính quyền của tổng thống Donald Trump tiếp tục kế tục chính sách của chính quyền tiền nhiệm trong việc tái bố trí sức mạnh quân sự về châu Á. Tuy vậy, cách tiếp cận của chính quyền Donald Trump khác với chính quyền của Barack Obama.

Nguồn: Internet 

Sự khác biệt lớn nhất đầu tiên đó là tính bất ngờ trong chiến lược của tổng thống Donald Trump. Giống như những gì ông đã từng biện hộ trong hai cuốn sách của mình, không ai biết rằng chính quyền Mỹ dưới triều Donald Trump sẽ làm gì kế tiếp. Chính vì tính bất ngờ đó mà đối thủ và kể cả các đồng minh đều ở trong trạng thái suy đoán và phòng vệ đối với Hoa Kỳ. Sự bất ngờ và là không chắc chắn trong chiến lược của chính quyền Donald Trump còn thể hiện ở chỗ chính sách đưa ra cho các nước khác nhau sẽ khác nhau, dựa vào lợi ích chiến lược của Hoa Kỳ, chứ không phải dựa trên một khung tiêu chuẩn chung. Lấy ví dụ như Việt Nam và Campuchia. Cả hai nước đều có thành tích vi phạm nhân quyền một cách tồi tệ trong năm qua nhưng Hoa Kỳ hầu như không có sự lên tiếng đáng kể đối với Việt Nam, thậm chí thắt chặt mối quan hệ, trong khi lên án nặng nề Campuchia, cắt các khoản viện trợ và thắt chặt visa của các quan chức đến Hoa Kỳ.

30.10.16

Chiến lược Một Vành Đai Một Con Đường của Trung Quốc

Nguồn hình: Xinhua Finance Agency, 2015. 

Quan sát những bước đi trong chính sách của Trung Quốc (TQ), nhiều người sẽ tự hỏi rằng TQ sẽ thực hiện những bước tiếp theo nào và đâu là mục đích cuối cùng. Bài dưới đây trình bày về chiến lược TQ đang thực hiện, có tên gọi là Chiến lược Một Vành Đai Một Con Đường. Sự quan trọng của chiến lược nằm ở chỗ nó ảnh hưởng trực tiếp đến Việt Nam trên tất cả các phương diện từ kinh tế, chính trị, quốc phòng, và ngoại giao. Và do đó, sự hiểu biết một cách rộng rãi trong các tầng lớp nhân dân Việt Nam là một điều cần thiết. Nó cần thiết không chỉ ở làm sao giữ được một Việt Nam độc lập, bình đẳng, và hòa bình bên cạnh TQ, mà còn ở làm sao Việt Nam có lợi trong một mối quan hệ với TQ, vì dù muốn dù không Việt Nam không thể tự mình cô lập với TQ.

Năm 2013 Trung Quốc phát động chiến lược «Một Vành Đai Một Con Đường – One Belt One Road (OBOR))» trong nỗ lực vươn lên trở thành một lãnh đạo khu vực châu Á và một cường quốc thế giới.

Chiến lược OBOR hay còn được gọi là «Con Đường Tơ Lụa Mới» là một chiến lược kinh tế và chính trị gồm có hai phần: Một Vành Đai (One Belt) và Một Con Đường (One Road).

Một Vành Đai chỉ «Vành đai Tơ lụa Kinh tế» bắt nguồn từ Tây An băng qua các thành phố lớn gồm Almaty, Bishkek, Samarkand, Tehran, Istanbul, Moscow và Rotterdam trước khi kết thúc ở Venice. Kế hoạch là xây dựng hệ thống đường bộ, đường sắt, và hệ thống ống dẫn dầu khí xuyên Trung Á đến châu Âu.

Một Con Đường chỉ “Con đường Tơ lụa Hàng hải Thế kỉ 21», bắt nguồn từ Phúc Châu (Fuzhou), kết nối các thành phố ven biển từ Hà Nội, Jakarta, Kuala Lumpur, Kolkata, Nairobi, trước khi kết nối với «Vành đai Tơ lụa Kinh tế» ở Venice. Để chuẩn bị cho việc hình thành «Con đường Tơ lụa Hàng hải», kế hoạch sẽ là xây dựng các hải cảng và các cơ sở hậu cần đường thủy từ Thái Bình Dương sang biển Baltic. Mà ở Việt Nam đó sẽ là việc xây dựng hệ thống đường cao tốc nối các tỉnh phía Nam của Trung Quốc với Hà Nội và các hải cảng phía Bắc, đồng thời nâng cấp hoặc xây mới các hải cảng ở vùng này.

Qui mô của chiến lược được dự đoán ảnh hưởng trực tiếp đến 65 nước và 4,4 tỉ người, nối kết một khu vực địa lý tạo ra 55% tổng sản lượng toàn thế giới, đại diện cho 70% dân số toàn cầu, và chiếm xấp xỉ 75% tổng lượng năng lượng dự trữ đã biết. Dự án dự tính cần khoảng 30 đến 35 năm để hoàn thành.

MỤC TIÊU

OBOR có sáu mục tiêu chính ở tầm mức thế giới và nội địa.

Trước hết, chiến lược là một phương cách nhằm đối phó với các nỗ lực của Hoa Kỳ, Liên minh Châu Âu và các đối tác trong việc hình thành nên các hiệp định thương mại nhằm gạt TQ ra khỏi các mạng lưới liên kết đối tác. Cụ thể là Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và Hiệp định Thương mại Tự do xuyên Đại Tây Dương (TTIP). Nếu cả hai hiệp định này được thông qua thì khi đó hàng hóa có giá trị thấp của các nước châu Á sẽ thay thế hàng TQ trong mạng lưới các nước đối tác, trong khi hàng hóa công nghệ cao của Nhật và các nước châu Âu sẽ cạnh tranh hơn hẳn hàng hóa chất lượng cao của TQ. TQ do đó sẽ bị cô lập về kinh tế. Chiến lược OBOR, bằng cách thắt chặt nền kinh tế TQ với nền kinh tế các quốc gia trong mạng lưới OBOR, sẽ khiến các quốc gia khác chia sẻ một định mệnh kinh tế với mình.

Ở khía cạnh thứ hai, chiến lược như là một cố gắng của TQ trong việc kéo các nước châu Á tích hợp và phụ thuộc vào TQ và nền kinh tế của mình nhằm tạo ra một hệ thống quyền lực mới ở Châu Á đặt trọng tâm tại Bắc Kinh như là một cách để đối đầu và làm thất bại chiến lược xoay trục về châu Á của Hoa Kỳ. Đó là một nỗ lực của TQ nhằm gửi ra một thông điệp đến Hoa Kỳ rằng châu Á là của mình.

Một mục đích thứ ba của chiến lược đó là dùng các tiếp cận kinh tế từ hỗ trợ, đầu tư trực tiếp, cho đến xuất khẩu các chính sách phát triển quốc gia đến các nước châu Á trong khu vực như là một cách nhằm giải tỏa đi các tranh chấp biên giới và hàng hải. Các quốc gia có tranh chấp với TQ gồm Ấn Độ với tranh chấp đường biên giới, Việt Nam và Philippines với các tranh chấp về hải đảo. Bằng cách đưa «củ cà rốt» về lợi ích kinh tế tới các đối tác tranh chấp, TQ muốn họ đồng ý trong những đòi hỏi chủ quyền của mình.

Ở mục đích thứ tư, chiến lược, bằng cách xây dựng cơ sở hạ tầng, tận dụng các hiệp định sẵn có và gỡ bỏ đi các rào cản thuế quan, cho phép nền kinh tế TQ tích hợp sâu hơn vào các nền kinh tế năng động khác. Nhờ đó giúp cho nền kinh tế TQ tăng xuất khẩu, giải quyết được khả năng sản xuất vốn đã bị dư thừa, và làm chậm lại quá trình đi xuống của nền kinh tế trong khi TQ đang cố gắng cải tổ nền kinh tế từ sản xuất để xuất khẩu sang tăng tiêu dùng nội địa.

Ở mục tiêu thứ năm, chiến lược cũng là một phương thức nhằm cải thiện hố ngăn cách về xã hội và kinh tế giữa các tỉnh duyên hải và nội địa của TQ. Các hành lang của chiến lược OBOR bắt đất từ các tỉnh nội địa trung tâm và phía Tây của TQ. Các kết nối hạ tầng của chiến lược giúp kết nối các tỉnh nội địa trung tâm và phía Tây, nơi vốn có mức lương thấp, với các thị trường mới ở nước ngoài sẽ giúp thúc đẩy một sự dịch chuyển các ngành kinh tế ở các tỉnh duyên hải ngược lên các tỉnh này. Bên cạnh đó, theo mô hình kinh tế đàn sếu bay, sự dịch chuyển đến lượt nó thúc đẩy các kết nối kinh tế mạnh mẽ hơn giữa duyên hải và nội địa, đồng thời tạo đà cho các sự phát triển các sản phẩm có giá trị cao hơn ở các tỉnh duyên hải.

Và cuối cùng, chiến lược đóng vai trò như một cách để giải quyết các thách thức về an ninh ở biên giới phía Tây và các vấn đề về an ninh năng lượng. Việc tích hợp về kinh tế của các tỉnh phía Tây Trung Quốc với hệ thống các chuỗi giá trị của thế giới thông qua các liên kết thương mại với các đối tác láng giềng giúp tăng cường khả năng chống khủng bố, ly khai và cực đoan tôn giáo trong khu vực, đặc biệt là vùng Tân Cương.

PHƯƠNG THỨC THỰC HIỆN

Để đạt được ba mục tiêu như vậy, chiến lược «Một Vành Đai Một Con Đường» dựa trên ba trụ cột chính. Đầu tiên, chiến lược thúc đẩy phát triển kinh tế thế giới thông qua đầu tư cơ sở hạ tầng và phát triển các kênh giao dịch thương mại mới.

Thứ hai, chiến lược nhằm tạo ra một sự phụ thuộc lẫn nhau giữa TQ, các quốc gia và vùng miền khác thông qua các mạng lưới đối tác toàn cầu, mà một trong các phương thức đó là thúc đẩy nhiều hơn các thanh toán trực tiếp bằng đồng Nhân dân tệ, tạo ra các liên kết hợp tác thông qua các tổ chức đa phương mà TQ nắm quyền chi phối như Ngân Hàng Đầu Tư Hạ Tầng Châu Á (Asian Infrastructure Investment Bank -- AIIB), Ngân Hàng Đầu Tư Mới (New Development Bank), Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (Shanghai Cooperation Organisation), và ASEAN+1.

Và thứ ba, chiến lược tập trung vào châu Á như một phần của chính sách ngoại giao láng giềng mới. Bằng cách xây dựng lại mối quan hệ chặt chẽ hơn về kinh tế với các vùng miền dọc theo Con đường Tơ lụa Mới, Bắc Kinh đang cố gắng thắt chặt sự thịnh vượng của khu vực vào mối quan hệ với Trung Quốc nhằm giúp hình thành nên một đế quốc kinh tế có trung tâm đặt tại TQ.

Để thực hiện các dự án này, đặc biệt là các dự án cơ sở hạ tầng, TQ dựa phần lớn vào vai trò của các tập đoàn nhà nước. Để hỗ trợ tài chính cho các dự án, ngoài việc hợp tác với các chính phủ liên quan, các dự án còn có sự hỗ trợ nguồn lực tài chính thông qua ba tổ chức chính là quĩ Silk Road Fund với 40 tỉ đô la Mỹ, Ngân Hàng Đầu Tư Hạ Tầng Châu Á (Asian Infrastructure Investment Bank -- AIIB) với 100 tỉ đô la Mỹ, và Ngân Hàng Đầu Tư Mới (New Development Bank) với 50 tỉ đô la Mỹ.

Nói một cách ngắn gọn, chiến lược «Một Vành Đai Một Con Đường» vừa nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững nền kinh tế trong nước của TQ, vừa thiết lập một hệ thống kinh tế mới nơi TQ đứng giữa chi phối các nền kinh tế của các quốc gia xoay quanh, khiến họ phụ thuộc vào nền kinh tế TQ, vừa để tránh việc Trung Quốc bị cô lập trên trường thương mại thế giới, và cuối cùng, một hệ thống như vậy còn giúp TQ tranh thủ ảnh hưởng để thực hiện các chính sách khác từ chính trị đến ngoại giao như giải quyết các tranh chấp lãnh thổ hay kiến tạo các quan hệ đồng minh.

OL, 31.10.2016


Tham khảo thêm:

“One Belt, One Road (OBOR): China's regional integration initiative”, Gisela Grieger, European Parliamentary Research Service, July 2016.

"One Belt, One Road": China's Great Leap Outward, Godement, F., and Kratz A., (eds.), European Council on Foreign Relations (ECFR), June 2015.

“China’s Silk Road Strategy”, Chi Lo, The International Economy, Fall 2015.