Showing posts with label minh bạch. Show all posts
Showing posts with label minh bạch. Show all posts

10.9.21

Minh bạch, từ thiện, và đất nước



Năm năm trước, tôi là một trong những người đầu tiên kêu gọi các hoạt động quyên góp tiền của bá tánh cho các hoạt động thiện nguyện cần phải minh bạch. Tại sao? Tại vì tiền đó không phải là tiền của người đứng ra tổ chức quyên góp, mà đó là tiền của rất nhiều người khác nhau để giúp cho rất nhiều người nghèo túng khác. Đó là tiền của cộng đồng. Và việc thiện nguyện là một hoạt động cộng đồng, nó không còn là chuyện riêng tư nữa. Trong chuyện riêng tư bạn có thể móc túi ra và tặng người khác bao nhiêu, hứa gì, nói gì, không ai ý kiến bạn cả. Nhưng chuyện của cộng đồng thì cho dù cộng đồng chưa có luật chính thức vẫn còn đó những luật bất thành văn thuộc về văn hoá cư xử của cộng đồng, đó là không được mượn danh thiện nguyện để ăn bớt, ăn xén. Mà để tránh được chuyện này, để khỏi bị nghi ngờ làm chuyện này, thì cách tốt nhất là công khai, minh bạch rõ ràng chuyện thu chi. Muốn chứng minh thu bao nhiêu thì sao kê ngân hàng. Còn muốn chứng minh chi thì có hoá đơn. Còn cái nào không chứng minh được thì có lời giải thích. Chỉ có khi chúng ta làm quen với văn hoá minh bạch trong xã hội thì sau đó xã hội mới tiến tới đòi minh bạch các khoản đóng góp, thu chi của chính phủ. Văn hoá trong sạch sau đó sẽ trở thành một văn hoá chung của Việt Nam, trong và ngoài chính quyền. Một văn hoá như vậy không những giúp Việt Nam mau chóng phát triển mà còn khiến thế giới phải ngưỡng mộ. Vì vậy mà phải xiển dương văn hoá đòi minh bạch.


Dưới đây là 3 bài viết của tôi 5 năm trước. Gộp lại đây cho dễ đọc. 

31.12.16

Sự mê tín của người Việt và tai hại của dân tộc

Đọc đánh giá về tính cách của người Việt, các nhà viết sử ngoại quốc lẫn Việt Nam đều có chung một nhận định là người Việt mình mê tín. Mà mê tín thì thường tin vào những điều còn mù mờ, nửa đúng nửa thật, tin những nhân vật bí ẩn. Tin vào những điều mà tâm trạng mình muốn nghe thay vì phải đặt câu hỏi ngược lại là tại sao. Cái tâm lý đó xưa nay không thay đổi.


Cái hại của một tâm lý như vậy là đôi khi niềm tin đã trở nên “cuồng” thì họ dễ dàng bị dẫn dắt, xỏ mủi đi theo niềm tin nào đó, thần tượng nào đó. Lịch sử xưa nay cho ra nhiều ví dụ như vậy. Có khi sự dẫn dắt đưa dân tộc đến một kết cục tốt đẹp, song cũng có lúc dẫn dân tộc đến chỗ lầm than.


Xưa, Lê Lợi bôi mỡ trộn mật viết lên lá cây rừng “Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trãi vi thân” khiến kiến ăn lên lá mà tạo ra tám chữ này, song song đó Lê Lợi và Nguyễn Trãi cho quân đi phao tin trong thiên hạ rằng họ là hai vị anh hùng được hồn thiêng sông núi ủng hộ để đánh đuổi giặc ngoại xâm, nhân dân mê tín cứ tưởng thật mà theo họ đánh đuổi ngoại xâm, giành độc lập dân tộc.


Sự mê tín đó một lần nữa được Lý Thường Kiệt dùng lại để kích động tinh thần tướng sỹ khi chống Tống xâm lược năm 1076. Hơn 30 vạn quân Tống từ Trung Hoa sang xâm lược, Lý Thường Kiệt lập phòng tuyến bên sông Như Nguyệt và đang đêm cho người vào đền thờ Trương Hống, Trương Hát ở phía Nam bờ sông, giả làm thần đọc vang bài thơ thần:

Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên phân định tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư!

Trần Trọng Kim dịch:

Sông núi nước Nam, vua Nam ở,
Rành rành phân định tại sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời

Tướng sỹ nghe bài thơ thần đó ngỡ là có thần yểm trợ nước Nam nên khí thế dâng cao, Lý Thường Kiệt liền cho quân vượt sông, tổ chức đánh một trận quyết chiến, thẳng vào trại giặc. Giặc bất ngờ, phần vì sỹ khí quân lính Đại Việt dâng cao nên chống đỡ yếu ớt, số bị thương và chết đến quá nửa. Lý Thường Kiệt sau đó cho người sang nghị hòa, để quân Tống rút về nước, vừa giữ được bờ cõi vừa giữ được hòa bình cho đất nước.


Dựa theo cái sự mê tín đó của dân Việt, những người cộng sản dựng lên hình tượng Bác Hồ và biến ông thành một vị thánh, những lời ông nói như chân lý, nhiều nơi còn đưa ông vào điện thờ, ngồi chung với Thần Phật, kêu gọi mọi người sống, lao động, học tập theo gương ông. Ông được tô vẽ lúc thì như một ông tiên, lúc thì như một vị thánh sinh ra với sứ mệnh vì dân vì nước: “Đụn Sơn phân dải, Bò Đái thất thanh, Nam Đàn sinh thánh”. Một lần nữa dân Việt tin theo ông, tin theo chủ nghĩa cộng sản và chung tay xây dựng chủ nghĩa xã hội theo những người cộng sản đồng chí của ông. Kết quả thế nào thì nhiều người đã nói, đã thấy, và đang chịu đựng.


Cái hại của sự mê tín do đó nó biến cả một đám đông của dân tộc trở nên cuồng tín, bất chấp lý lẽ, đúng sai. Người ta tin chỉ vì để thỏa mãn cái tâm lý muốn nghe điều họ muốn nghe, chứ không phải muốn nghe điều phân tích có lý mà thường trái tai của một thiểu số.


Cái sự mê tín này nếu không chữa thì có khi cả dân tộc lại lặp lại sai lầm là đi tin vào những tay giỏi trò mị dân đưa đất nước vào điêu linh một lần nữa.


Tuy vậy nhiều người lại không nhận ra sự nguy hại của vấn đề. Họ đi cổ vũ cho những cá nhân mờ mờ ảo ảo viết những điều hư cấu trộn lẫn thực tại thành những miếng bánh để đáp ứng đám đông đang đói thông tin, không biết đất nước mình sẽ đi đâu trong những ngày sắp đến và những nhà cầm quyền đang làm gì ở chốn cung đình. Những thực hư đó tiếp tục là những viên thuốc phiện dẫn dắt đám đông nằm tại chỗ nhưng mơ màng gửi niềm tin đi từ nơi này sang nơi khác. Mà một hậu quả nhãn tiền là không ai chịu làm gì cả nhưng cùng chờ đợi một sự thay đổi sẽ đến từ đâu đó, một niềm tin giống như con người có số phận và đất nước có thịnh suy.


Muốn chữa được cái sự cuồng tín thì một mặt những người hiểu biết cần nói ra và mặt khác báo chí và cộng đồng cần phải đưa thông tin đa chiều nhiều hơn nữa. Khi mà các luồng thông tin ngày càng minh bạch, đa chiều hơn thì người dân sẽ dần học cách biết suy xét, suy nghĩ lý tính hơn để từ đó phân biệt được rạch ròi phải trái, trắng đen. Có như vậy thì dân tộc mới tránh được cái họa bị một người, một nhóm người hay một ý thức hệ lú lẫn hóa lôi kéo đi như chúng ta từng chứng kiến.


Nguyễn Huy Vũ

OL, 31.12.2016

30.12.16

Mồi câu từ thiện

Những ai đi câu cá đều biết muốn câu được cá cần có mồi. Tùy từng loại cá muốn câu mà chọn địa điểm câu và chọn mồi khác nhau. Câu cá là một nghệ thuật, và nói theo nhiều người thì người câu cá giỏi có thể được xem như một nghệ sỹ. Anh ta biết chỗ nào có cá, nhìn thời tiết biết có cá ít hay nhiều, thả thính loại nào, mồi gì. Nếu như nghệ sỹ cũng học và luyện tập thì người câu cá chuyên nghiệp cũng vậy. 


Trong câu chuyện quyên góp từ thiện, ngoại trừ một số những người và tổ chức hiếm hoi thật sự lương thiện và thường lặng lẽ bởi vì làm từ thiện xuất phát từ cái tâm thiện của họ và thường họ không mưu cầu điều gì khác ngoại trừ niềm vui khi giúp được người khác vui, thì những tổ chức và cá nhân vụ lợi khác hành động không khác bao xa cái nghề câu cá. 


Và vì thế, bài này kể câu chuyện về cách các tổ chức từ thiện vụ lợi hoạt động từ thiện vì lợi ích chính họ. Cách làm của những tổ chức vụ lợi này có một mô-tip tương đối giống nhau như sau:


Đầu tiên là chọn địa điểm hay môi trường: nếu như câu cá bạn chọn một địa điểm thì người làm từ thiện vụ lợi cũng chọn một môi trường để «câu» những nhà hảo tâm.


Bước thứ hai là thả thính: nếu như người câu cá thả thính để dụ cá tới thì những nhà hoạt động từ thiện vụ lợi cũng sẽ mồi dư luận, đưa tin về vụ việc, để kéo sự chú ý và đo sự quan tâm của dư luận.


Bước thứ ba là chọn mồi và thả mồi: nếu như người câu cá tùy từng loại cá muốn câu mà chọn các loại mồi khác nhau thì người hoạt động từ thiện vụ lợi cũng sẽ đưa các miếng mồi khác nhau dụ mạnh thường quân. Mồi để dụ mạnh thường quân thường đa dạng, đó là các cô nhi viện trá hình dùng trẻ em để nhận tiền, những người thuê trẻ em kèm theo để bán vé số và ăn xin, những cá nhân bỏ ra một số tiền và dùng những người nghèo để kêu gọi hỗ trợ tiền chữa bệnh, xây nhà, xây cầu ở vùng nông thôn….


Bước thứ tư là tăng cường truyền thông: ở đây nếu như người câu cá thường cố gắng giữ im lặng để câu được nhiều cá, thì những nhà hoạt động từ thiện vụ lợi sẽ dùng truyền thông để thổi phồng hoạt động và hình ảnh của mình lên để hi vọng «câu» được nhiều mạnh thường quân hơn. 


Và cuối cùng, bước thứ năm thì sau khi những con cá bị mắc câu, cả cá thiệt và «cá mạnh thường quân» tất cả đều có một điểm chung là im lặng. Cá thật im lặng thì đã đành. Còn cá mạnh thường quân im lặng vì nghĩ trong xã hội Việt Nam thì cho dù mình la to lên thì có mấy ai nghe mình và mình càng la to thì có khi nhiều người lại nghĩ xấu về mình rằng có mấy đồng bạc làm từ thiện mà tiếc của la om sòm, thậm chí còn bị nhiều người ác miệng chửi mình ngu, không biết nhìn người. Khi bỏ tiền ra làm từ thiện, những mạnh thường quân nghĩ rằng số tiền đó là bố thí, cho người khác, đã không còn là của mình. Và khi bị ăn chặn người mình nhiều khi biết ra sự thật thì tức quá đôi khi chửi đổng một câu rồi hết, mà nói như nhiều người là tiền đem đi cúng cô hồn. Phần còn lại nhiều mạnh thường quân ngại việc tốn thời gian trong việc đi thu thập chứng cứ, liên lạc luật sư, và số tiền không đáng bao nhiêu so với họ nên họ chọn im lặng.


Có một điểm chung lớn của những tổ chức và cá nhân trong các phi vụ ăn chặn từ thiện là họ thường không minh bạch các khoản thu chi, hoặc nếu có minh bạch thì làm cho có lệ. Vì nếu minh bạch hết thì khác nào tự «vạch áo cho người xem lưng», thấy hết những nhập nhèm. 


Chính vì vậy mà thường các mạnh thường quân khó có thể nào một sớm một chiều biết được cái tổ chức mình góp lại đi ăn chặn tiền của mình, nếu không có các cơ quan báo chí hay phóng viên có tâm vào cuộc. Trong nhiều trường hợp nhà báo khi đối diện với sự thật ăn chặn một lần nữa cũng đứng trước những suy nghĩ của chính mình rằng mình có nên khui vụ này ra không, nhất là những vụ mà lỡ khui ra ánh sáng thì có thể khiến thân bại danh liệt một cá nhân, hoặc có thể phải đóng cửa một cô nhi viện. Nhưng mà nếu không khui thì khác nào làm lơ để những cá nhân hay tổ chức ăn chặn tiền cứ nhơn nhơn trước pháp luật ăn chặn năm này sang năm khác. Mà cái hại là lâu dần nó trở thành một thứ cấm kị (taboo) trong xã hội Việt Nam, khi ai cũng biết mà không ai dám nói.


Nhưng một xã hội mà ở đó có những ung nhọt chúng ta không dám nói ra, phẫu thuật nó ra thì cái ung nhọt đó sẽ mãi mãi ở trong cơ thể chúng ta và không thể nào khiến chúng ta khỏe mạnh hay nói một cách rộng ra là không bao giờ khiến chúng ta có được một xã hội lương thiện và văn minh được. Vì vậy mà hãy một lần lên tiếng và thiết lập một chuẩn chung cho xã hội rằng tất cả các cá nhân và tổ chức quyên tiền cho từ thiện hay các hoạt động xã hội cần phải minh bạch các khoản thu chi. 


Và chỉ khi chúng ta đã làm quen được với văn hóa minh bạch và lương thiện ở mức xã hội là các hoạt động từ thiện thì mới có hi vọng chúng ta quyết tâm đòi được minh bạch ở các lĩnh vực xa hơn trong xã hội để từ đó loại bỏ dần tham nhũng và bất công. 


Nguyễn Huy Vũ

OL, 29.12.2016

Miếng bánh ngân sách

Khi những cơn lũ lụt cuốn trôi nhà cửa của những đồng bào nghèo khó miền Trung giữa tháng 10, có những câu hỏi mà nhiều người còn nặng lòng với đất nước đặt ra đó là tại sao những trận lụt lớn như vậy thường xuyên xảy ra mà không thấy vai trò của chính quyền trong cảnh báo, phòng vệ và hỗ trợ một cách hiệu quả?


Đây cũng không phải là lần đầu tiên những người dân miền Trung gánh chịu những cơn lụt, mà cùng với phá rừng và làm thủy điện, những cơn lũ ngày càng đột ngột hơn và lớn hơn.


Nói một cách giản đơn hơn thì nếu như người Nhật xây được những căn nhà chống động đất, sống yên bình và thịnh vượng, thì hẳn người Việt ở miền Trung cũng sẽ tìm được một phương cách để chống lại những cơn lũ lụt hàng năm, hay nói chi đâu xa, hãy nhìn cách những đồng bào miền Tây Nam Bộ sống bên cạnh những con nước lớn.


Vậy thì tại sao người Việt ở miền Trung lại khác?


Câu hỏi đó làm tôi nhớ đến cuộc trò chuyện với một người bạn làm ở Bộ Tài chính mà để trả lời câu hỏi đó thì nội dung chỉ quanh quẩn ở bốn từ: miếng bánh ngân sách.


Các tỉnh ở khúc ruột hẹp nhất miền Trung kinh tế èo uột, không có nhiều nguồn thu ngân sách, thu không đủ chi nên hàng năm phải nhờ trung ương chi viện. Khi không có nhiều nguồn thu ngân sách thì thu nhập của các quan cũng ít đi vì đã thu không đủ chi thì đâu dám bớt xén gì nhiều. Cái khó trong thu nhập của các quan đến lượt nó gây bao tai họa cho người dân của xứ này và cả nước.


Trước hết vì khó khăn trong thu ngân sách của địa phương ảnh hưởng trực tiếp đến phần trăm chia vào túi của các quan nên các quan ở khu vực này bằng mọi giá thu hút các doanh nghiệp đầu tư về tỉnh mình. Dự án càng lớn thì càng tốt, vì thường phần chi tỉ lệ phần trăm với dự án, bất chấp các tác động đến môi trường. Vì vậy mà biết bao dự án tai hại đã xuất hiện ở đây, từ Formosa cho đến các dự án thủy điện.


Những ai có chút hiểu biết đều thấy rằng ở khu vực này, nơi mà đồng bằng hẹp nằm sát bên cạnh núi rừng thì chỉ cần những cơn lũ bất chợt của núi rừng cũng đã đủ khiến cho dải đồng bằng hẹp nhanh chóng bị ngập lụt huống chi có sự tiếp tay xả lũ của thủy điện.


Một cách thứ hai để làm đầy túi các quan đó là vẽ các dự án và xin ngân sách trung ương. Không khó để nhận ra một điều rằng các tỉnh miền Trung này thi nhau xây dựng dự án, tượng đài trăm, nghìn tỉ. Những người có hiểu biết đều biết rằng đây chỉ là những dự án để rút ruột, mà thường các tỉnh nghèo mới trơ trẽn xin để xây và chia. Những tỉnh giàu hơn nơi mà các quan có nguồn thu kha khá, người ta đủ liêm sỹ để không ăn một cách lộ liễu như vậy. Đếm sơ sơ sẽ thấy: Ở Quảng Nam có tượng đài mẹ Việt Nam anh hùng kinh phí lên tới 411 tỷ đồng nhưng nhanh chóng xuống cấp sau khi khánh thành. Ở Quảng Bình có dự án xây đường tránh lũ với 30 cây số trị giá 1000 tỷ đồng. Ở Hà Tĩnh xây quảng trường và tượng đài Mai Hắc Đế với mức kinh phí lên 106 tỉ đồng. Ở Bình Định xây tượng đài Nguyễn Sinh Sắc-Nguyễn Tất Thành với kinh phí lên đến 118 tỉ đồng…Đó chỉ là bề nổi của tảng băng chìm mà hầu như các tỉnh miền Trung nghèo khó đều có.


Bên cạnh vẽ dự án để kiếm chác, còn có một nguồn thu đều đặn hàng năm nữa đó là tiền hỗ trợ lũ lụt từ trung ương. Lũ lụt thì năm nào mà chẳng có và khi có lũ lụt thì trung ương phải rót tiền cứu trợ xuống địa phương. Tiền trước tiên vào ngân sách tỉnh, chi bao nhiêu, mua cái gì, hỗ trợ bao nhiêu cho dân các quan đầu tỉnh quyết định, phần còn lại thì chia phần trăm với nhau rồi hợp thức hóa giấy tờ. Oái ăm ở chổ là lũ lụt càng lớn, thiệt hại càng nhiều thì tiền ngân sách rót về địa phương càng lớn, và theo tỉ lệ thì tiền vào túi quan cũng nhiều thêm. Khi lũ lụt các phóng viên được rót vào tai các con số về thiệt hại, phóng đại gấp nhiều lần, để gây áp lực xin tiền ngân sách trung ương. Các cấp ở trung ương biết điều này không? Chắc chắn là biết, nhưng đều có phong bì cả, có qua có lại, anh rót tiền xuống tỉnh tôi thì tôi gửi lại phong bì cho anh. Cả hai đều có lợi chỉ mỗi thằng dân đen là khổ. Lấy ví dụ trong đợt lũ lụt vừa rồi, riêng tỉnh Bình Định đưa ra con số thiệt hại là 2000 tỷ đồng, và xin chính phủ xem xét hỗ trợ khắc phục hậu quả với kinh phí 500 tỷ đồng. Thủ tướng chính phủ đồng ý hỗ trợ bổ sung vỏn vẹn … 80 tỉ và 2000 tấn gạo. Trong khi đó thì Bình Định vừa mới duyệt xây tượng đài 118 tỉ đồng.


Đến đây thì độc giả đã hiểu được rằng tại sao mấy chục năm qua, lũ lụt ngày càng lớn, đồng bào thiệt hại mỗi năm ngày càng nhiều mà quan thì cứ nhơn nhơn như không phải chuyện của mình. Xem tài sản và tính mạng nhân dân như rác. Bởi vì đơn giản một điều rằng có lũ lụt thì có ăn chia, và thiệt hại càng nhiều, ngân sách rót về càng lớn, thì túi nhà quan càng đầy.


Vì vậy mà chỉ khi nào những ông quan này được nhân dân bầu chọn lên cai quản xứ mình bằng chính lá phiếu của nhân dân trong các cuộc bầu cử tự do thì mới hi vọng họ hết lòng chăm lo cho sự an vui và thịnh vượng của xứ mình. Khi nào thì dân được cầm lá phiếu bầu chọn lên những «ông đầy tớ» của mình? Tất cả đều nằm ở ý chí của mỗi công dân vì quan là thuyền, dân là nước. Nước đẩy thuyển trôi mà cũng nước sôi thuyền lật.


Nguyễn Huy Vũ

OL, 30.12.2016



Xem thêm:

“Quảng Bình: Thêm 1 dự án đường BOT ngàn tỉ khiến người đi đường ‘sốt vó’”. Báo Điện Tử Gia Đình Việt Nam. Ngày 30/6/2016. Nguồn: https://goo.gl/r2BLiW


“Hà Tĩnh: Gần 106 tỉ đồng xây dựng đền thờ, tượng đài và quảng trường Mai Hắc Đế”. Báo Bình Định. Ngày: 19/2/2016. Nguồn: https://goo.gl/iYN5xM


“Chính phủ hỗ trợ 260 tỷ đồng khắc phục thiệt hại bão lũ”. VNExpress. Ngày: 21/10/2016. Nguồn. https://goo.gl/qIbpgk


“Thủ tướng quyết định hỗ trợ Bình Định 80 tỉ đồng và 2.000 tấn gạo” Dân Trí. Ngày: 21/12/2016. Nguồn: https://goo.gl/MeQLg2


“Bình Định: 80 tỷ đồng chống lũ, 118 tỷ đồng xây tượng đài” VOA Tiếng Việt. Ngày: 22/12/2016. Nguồn: https://goo.gl/m9MocZ


“Tượng đài mẹ Việt Nam 411 tỷ đồng ở Quảng Nam”. VNExpress. Ngày 14/3/2015. Nguồn: https://goo.gl/uzcv77





Minh bạch xã hội và vai trò của các đối trọng

Quan sát sự phát triển của các nền dân chủ nhiều người sẽ nghiệm ra một điều rằng thành tố quan trọng đóng góp vào sự ổn vững đó là vai trò của các đối trọng chính trị hay đối lập chính trị. Trong một hệ thống chính trị nơi mà đối lập yếu sẽ dẫn đến sự độc tài và chuyên quyền. Quyền lực cần được kiểm soát và khi mà quyền lực bị kiểm soát lỏng lẻo thì ở đó sự lạm quyền sẽ diễn ra.

Nhiều bạn ở Việt Nam theo dõi các cuộc tranh luận gay gắt được truyền thông mổ xẻ trong các cuộc bầu cử tổng thống Mỹ sẽ thấy được vai trò của sự cân bằng và kiểm soát chính trị. Đảng này kiểm soát đảng kia, và có như vậy thì đảng cầm quyền phải ráng làm tốt. Một quyết sách của đảng cầm quyền đưa ra đều bị đảng đối lập đem ra mổ xẻ, phê bình, có như vậy xã hội mới biết điều gì đang xảy ra ở đất nước mình, có lợi hay có hại. Nhờ những hoạt động của đối lập mà nền chính trị được minh bạch dần.

Không một ai thích mình bị minh bạch hóa ra cho thiên hạ xem, nhất là những cái xấu của mình thì càng phải giấu. Nhưng trong chính trị, các quyết sách sai ảnh hưởng đến hàng triệu con người và đôi khi thậm chí quyết định sự sống còn của đất nước, vì vậy mà nó cần được minh bạch cho toàn dân được biết. Vai trò của đối trọng là ở chỗ đó. Nếu không có đối trọng thì sẽ không bao giờ có minh bạch. Vì vậy mà muốn có minh bạch thì phải có đối trọng.

Đó là chuyện chính trị. Ở khía cạnh xã hội, các hoạt động của các tổ chức và cá nhân chắc chắn sẽ có những điều gây phương hại đến sự an toàn của các cá nhân, sự tàn phá môi trường, hay những tác động có hại khác cho đất nước.

Để kiểm soát những điều này, chúng ta có ba cách.

Cách đầu tiên là tăng cường lực lượng công an cả về số lượng và chất lượng. Nhưng khi lực lượng công an quá đông thì không những nhà nước phải tốn một ngân sách lớn, tốn kém, để chi trả mà bên cạnh đó còn thiệt mất một lực lượng sản xuất đáng kể khi đáng lẽ ra những viên công an này có thể được đào tạo thành những doanh nhân, kỹ sư, bác sỹ,.., đó là những công việc tạo ra nhiều giá trị hơn cho xã hội.

Cách thứ hai là gia tăng mức trừng phạt đối với các sai phạm. Tuy vậy, khi mức độ trừng phạt gia tăng đến một mức nào đó thì sự trừng phạt biến đất nước trở thành một nơi khắc nghiệt – nơi mà sự nhân văn không còn nữa.

Cách thứ ba đó là khuyến khích sự xuất hiện của các tổ chức xã hội dân sự. Các tổ chức này sẽ là các đối trọng xã hội giúp thúc đẩy một xã hội minh bạch và tiến bộ. Mỗi tổ chức sẽ có một mục tiêu và tất cả có cùng một sứ mệnh đó là đứng về phía quyền lợi của người dân và đất nước để điều tra, lên án, và kéo cơ quan công quyền vào cuộc nếu thấy những sai phạm từ các cá nhân hay tổ chức ảnh hưởng đến quyền lợi của nhân dân và đất nước.

Sự hiện diện của các tổ chức xã hội mang nhiều ý nghĩa. Thứ nhất, các tổ chức xã hội dân sự trước hết đóng vai trò là tiếng nói của người dân đối với các vấn đề thiết thực liên quan đến chính mình trong xã hội.

Thứ hai, sự hiện diện của các tổ chức xã hội dân sự giúp cho một xã hội được kiểm soát lẫn nhau, mọi thứ dần minh bạch hơn, hạn chế những hành động có hại cộng đồng của bất cứ tổ chức hay cá nhân nào.

Thứ ba, tổ chức xã hội được tổ chức bởi người dân do đó nó giúp kết nối người dân với đất nước, khiến họ có trách nhiệm với xã hội mình đang sống và tập cho họ quen dần với sự phản biện của mình.

Thứ tư, môi trường hoạt động của các tổ chức xã hội dân sự cũng sẽ giúp đào tạo nên những cá nhân có kinh nghiệm tổ chức hoạt động vì lợi ích cộng đồng. Những cá nhân này sẽ là những hạt giống lãnh đạo sau này trong nhiều tổ chức khác nhau từ kinh doanh đến chính trị.

Và cuối cùng, nếu so với hai phương cách trên – gia tăng sự hiện diện của công an hay gia tăng hình phạt – thì phương cách tăng cường sự hiện diện của các tổ chức xã hội dân sự không những giúp cho nền dân chủ được sống động mà nó còn giúp cho sự tự do của xã hội được khởi sắc, vì tiếp xúc với những cá nhân dân sự tự tổ chức các hoạt động của mình lúc nào cũng dễ dàng và thoải mái hơn là tiếp xúc với các viên công an hay nhân viên công quyền.

Vì những ích lợi của các tổ chức xã hội dân sự như vậy nên ở các nước dân chủ phát triển, họ rất chú trọng đến việc duy trì và phát triển các tổ chức này. Các tổ chức như vậy được nhận tài trợ hàng năm dựa vào thành tích mình thực hiện. Thường họ nhận tiền trực tiếp từ các tổ chức chính phủ hoặc từ các nhà hảo tâm. Một số chính phủ thường có chính sách giảm thuế cho các cá nhân hay tổ chức đóng góp tiền cho các tổ chức như vậy dựa vào tỉ lệ đóng góp.

Một nước Việt Nam văn minh trong tương lai cũng nên hỗ trợ sự hình thành các tổ chức dân sự xã hội như vậy. Các tổ chức xã hội dân sự sẽ đóng vai trò là những đối trọng xã hội, kiểm soát sự sai phạm trong hành động của các cá nhân hay tổ chức làm phương hại đến lợi ích của nhân dân và tổ quốc từ gây ô nhiễm môi sinh đến sự an toàn của thực phẩm. Và khi mà sự sai phạm được đưa ra thì các đối trọng chính trị đến lượt nó áp lực chính phủ cầm quyền phải thực hiện nghiêm phát luật để bảo vệ lợi ích của quốc gia. Sự phát triển của một quốc gia do đó có một công lớn ở sự phản biện của các đối trọng xã hội.

OL, 22.12.2016

Văn hóa minh bạch và quyền tiếp cận thông tin

Với các bạn ở các nước dân chủ đủ lâu và có cơ hội làm việc liên quan đến các cơ quan tổ chức chính phủ lẫn xã hội, mọi người sẽ cảm nhận một điều rằng sự minh bạch và quyền tiếp cận thông tin luôn được đề cao.

Sự minh bạch chính nó đã trở thành một văn hóa phổ biến trong xã hội. Khi bạn điền đơn nộp hồ sơ xin việc, họ sẽ có mục hỏi bạn có bà con thân thích làm việc trong cơ quan không. Còn khi bạn nhận được một quyết định mà bạn cảm thấy không công bằng từ phía chính phủ hay bất cứ cơ quan nào đó, bạn có quyền khiếu nại và họ buộc phải trả lời cho bạn theo quy định hẳn hoi. Bạn đi khám bệnh nếu thấy hóa đơn có nhiều thắc mắc, bạn có quyền gửi đơn cho bệnh viện và họ có trách nhiệm trả lời chi tiết về số tiền họ tính cho bạn. Bạn đi siêu thị mua món đồ, món đồ về nhà kiểm tra bạn thấy nó hư hoặc không như ý của bạn, bạn có quyền đem món hàng nguyên vẹn đó trả lại siêu thị trong một khoảng thời gian nhất định và họ trả lại toàn bộ tiền cho bạn. Và nếu bạn theo dõi chính trị Mỹ thì mới đây, trong cuộc bầu cử Mỹ, khi phe Dân chủ nghi ngờ kết quả kiểm phiếu, họ có thể đóng tiền và chính quyền buộc phải mở kiểm phiếu lại.

Những ví dụ trên là những ví dụ về minh bạch. Nó hiện diện ở khắp mọi nơi trong xã hội, từ mua bán, làm việc, đến hoạt động chính quyền.

Với người ở xứ văn minh, đó như là điều hiển nhiên. Hiển nhiên đến mức nhiều người Việt mình ở các xứ tiến bộ trải nghiệm nó mà không hiểu nó là một sự minh bạch trong xã hội.

Nhưng sự minh bạch đó có lẽ là điều còn mới lạ ở Việt Nam, chúng ta chưa có một văn hóa đó. 

Minh bạch là một văn hóa dựng nên nhờ những quyền của con người: đó là quyền tiếp cận thông tin và quyền được đối xử công bằng. Với bất cứ những thông tin nào trong giao dịch, cá nhân trong xã hội có quyền tiếp cận thông tin và với bất cứ vụ việc nào họ cũng cần được đối xử công bằng. Có như vậy xã hội mới tiến bộ và văn minh.

Cả hai quyền tiếp cận thông tin và quyền được đối xử công bằng đều bị xâm phạm rất nghiêm trọng ở Việt Nam hiện nay. Đáng buồn là các hoạt động cổ vũ cho hai quyền này không được xiển dương rộng rãi ở Việt Nam hiện nay.

Chỉ khi cả hai quyền này được thực thi mạnh mẽ hơn thì các vấn nạn xã hội và đất nước mới dần giảm bớt. Về mặt xã hội, nó giúp giảm đi các hành vi ăn chặn tiền quyên góp, tham nhũng, lạm quyền, mua quan bán chức, cất nhắc người thân. Nó giúp hình thành văn hóa kinh doanh lương thiện, quảng cáo sản phẩm đúng thông tin. Nó giúp việc hình thành các hợp đồng rõ ràng, minh bạch. Nó giúp người dân hiểu quyền của mình và tiếp cận được thông tin khi quan hệ với các cơ quan chính quyền. Về mặt chính trị, nó là một văn hóa giúp kiến tạo nên một chính phủ dân chủ vì một chính phủ dân chủ phải xuất phát từ một cuộc bầu cử minh bạch. 

Vì tất cả các lợi ích của minh bạch đó mà người Việt cần hiểu và tự giành các quyền của mình, trong đó có quyền tiếp cận thông tin và quyền được đối xử công bằng, để tự dựng xây nên một nước Việt minh bạch, lương thiện, và văn minh. Đó là trách nhiệm của mỗi người trong việc hình thành nên một văn hóa chứ không ai khác. 

OL, 15.12.2016

Về văn hóa minh bạch tiền bạc của người Việt

Có một điểm dở trong văn hóa của người Việt đó là sự khó nói về tiền bạc trong các mối quan hệ. Một mối quan hệ mà dính đến tiền trước sau gì cũng dễ xích mích. Người Việt mình xem việc cho, nhận, chi tiền nhiều khi là một cái gì đó thuộc về tình cảm chứ không giống như nhiều người ở các xứ tiến bộ xem tiền như một vật trao đổi thuần túy trong hợp đồng giữa người với người.

Khi ra ngoài ăn uống, lúc chi trả hóa đơn, người mình khá lúng túng. Người thì dành trả vì thể diện, người thì ngại được trả cũng vì thể diện. Khi cho mượn tiền, người cho mượn không dám đòi vì sợ mất bạn, phần vì sợ người mượn bảo có nhiêu đó mà đòi, thằng này keo kiệt, bủn xỉn. Thành ra nhiều khi người cho mượn ráng nhịn. Còn về phần người mượn thì nhiều khi vì công việc bận quá mà quên, mà cũng có khi không có đủ tiền để trả nên cũng thành ra khó ăn khó nói nên lẳng lặng im luôn, có khi tránh mặt. Thành ra vậy mà mất đi mối quan hệ tốt đẹp. Vì chỉ khi mối quan hệ tốt đẹp tin nhau thì người ta mới cho mình mượn tiền.

Ở một khía cạnh khác, có khi người ta nhờ gửi tiền để mua cái gì đó hay chi chỗ nào đó, xong người gửi không dám hỏi. Vì nghĩ có bao nhiêu tiền đâu mà hỏi, mà nếu hỏi thì bị đánh giá là nhỏ mọn, nên im.

Nhiều lần tôi gặp nhiều người bạn, họ trách đất nước có nhiều cái tệ quá, xong khi nói đến tham nhũng họ bảo phải chi mấy ổng ăn mà mấy ổng làm được cũng đỡ, đằng này mấy ổng ăn không mà không làm.

Họ không phải là những người nghiên cứu kinh tế - chính trị hay xã hội nên không biết rằng khó có một nước nào trên thế giới mà phát triển được nếu bị tham nhũng hoành hành.

Nhiều người suy nghĩ như vậy lắm.

Nói vậy chỉ để nói lên một tâm lý rằng người Việt mình rất xuề xòa trong các minh bạch và tách bạch giữa tiền bạc và tình cảm. Và khi mình xuề xòa như vậy thành ra mọi người trong xã hội hình thành một cái nếp là rất xuề xòa về tiền bạc, thu chi, vay mượn, sao cũng được.

Đó là một văn hóa chúng cần dần dần thay đổi nếu chúng ta muốn trở nên là một xã hội công bằng, văn minh và giàu tình cảm hơn. Tại sao phải là công bằng? Trong ví dụ trên, khi mà mọi người cùng đi ăn thì về mặt công bằng họ phải có trách nhiệm trả khoản tiền mình ăn, trừ khi là bạn bè hay người thân mời khi có dịp. Tại sao văn minh? Như ví dụ ở trên khi mình mượn tiền thì mình có trách nhiệm trả tiền và người cho mượn có quyền hỏi. Chúng ta nên coi điều đó như một hành động bình thường nằm ngoài tình cảm. Tại sao lại giàu tình cảm hơn? Vì khi cả hai hiểu nhau rằng vay mượn phải trả hợp lý hoặc gửi tiền thì có quyền hỏi và người nhận nên trả lời thì không ai phải giận ai, tình bạn sẽ hiểu nhau hơn.

Những điều đó cần hình thành nên một văn hóa, văn hóa cư xử trong các giao dịch về tiền bạc. Chúng ta hiện nay chưa có văn hóa đó và chúng ta cần phải ý thức và xây dựng.

Muốn có được một văn hóa cư xử trong các giao dịch về tiền bạc thì điều đầu tiên là mọi người cần làm quen với văn hóa minh bạch trong giao dịch tiền bạc. Đó cũng là lý do mà người viết bài này cổ vũ cho sự minh bạch trong thu chi của các hoạt động thiện nguyện.

Chúng ta và xã hội sẽ nhận được nhiều ích lợi từ các hành động minh bạch này.

Thứ nhất, việc đòi hỏi minh bạch trong từ thiện chính nó sẽ tạo một tiền lệ trong các hoạt động xã hội từ rày về sau rằng những cá nhân và tổ chức quyên góp tiền cho các hoạt động xã hội cần phải có trách nhiệm minh bạch số tiền thu chi hoặc đúng với cam kết ban đầu của mình. Nếu để ý bạn sẽ thấy một điều rằng các hội nhóm thiện nguyện khác đã bắt đầu công bố các con số thu chi. Đó là một tín hiệu tốt. Dần dần mọi người sẽ quen với việc minh bạch thu chi trong các hoạt động xã hội.

Thứ hai, nó cũng tạo một tiền lệ rằng những người gửi tiền cho các hoạt động xã hội và cộng đồng có quyền giám sát và đòi hỏi người nhận tiền thực hiện đúng như cam kết ban đầu.

Thứ ba, khi môi trường trở nên minh bạch và rõ ràng, nó sẽ khiến cho những người lương thiện và tử tế khi thực thi các hoạt động xã hội được tôn vinh và coi trọng một cách xứng đáng, chứ không còn bị nghi ngờ này nọ.

Thứ tư, thiện nguyện là một điều tốt và những người làm điều tốt, vì trách nhiệm cộng đồng, xã hội đều đáng được tôn vinh. Không phải ở bất cứ lĩnh vực nào chính phủ cũng có thể can thiệp được, và ở những điểm mà chính quyền khó với tới hoặc thực hiện không hiệu quả, cần có sự can thiệp của các hội đoàn dân sự. Bất cứ một hoạt động thiện nguyện hay hoạt động xã hội nào cũng cần tài chính, không thể làm gì được nếu không có tiền. Và khi mà các hoạt động xã hội được mọi người tin tưởng tuyệt đối, quyên góp tài chính hỗ trợ mạnh mẽ, thì đất nước mới có cơ hội phát triển.

Thứ năm, việc các tổ chức và cá nhân quyên góp tiền nhanh chóng minh bạch hóa và ghi nhận các khoản đóng góp của các nhà hảo tâm ở đó còn thể hiện một văn hóa khiêm nhường trong việc trân trọng tiền bạc và tình cảm chia sẻ của những người đóng góp. Về lâu về dài, điều này giúp tạo nên một tiền lệ tốt và giúp hình thành nên một văn hóa tốt trong xã hội của Việt Nam – một văn hóa khiêm nhường và quý trọng tiền bạc, tình cảm của những người chia sẻ tấm lòng. Ở các công trình công cộng ở Mỹ như công viên, bảo tàng, nhà quản lý luôn để những tấm bảng bé bé đề tên người hiến tặng. Điều đó thể hiện một văn hóa khiêm nhường và trân trọng người hiến tặng thiện nguyện.

Thứ sáu, việc minh bạch chính nó sẽ giúp hình thành nên một văn hóa lương thiện và giúp xây dựng niềm tin trong xã hội Việt Nam nơi niềm tin giữa người và người của chúng ta đang ngày càng bị mai một, khi không ai tin ai trong xã hội. Người dân không tin lẫn nhau, chính quyền không tin người dân, và người dân không tin cả chính quyền.

Thứ bảy, khi mà người dân chúng ta đòi hỏi được một sự minh bạch trong các hoạt động xã hội dân sự của mình và từ từ xây dựng nên một văn hóa minh bạch trong việc đưa và nhận tiền thì đó là bước đầu tiên để chúng ta xây dựng nên một văn hóa minh bạch trong các giao dịch tiền bạc ở cấp xã hội. Đó là nấc thang đầu tiên trước khi chúng ta có thể tiến tới đòi hỏi một sự minh bạch hơn trong chi tiêu của chính quyền. Người dân không những có quyền đòi hỏi từng đồng tiền quyên góp của mình dùng vào việc gì cho thiện nguyện, mà việc này còn giúp đặt một tiền lệ để sau này mọi người có quyền đòi hỏi từng đồng tiền thuế của mình được tiêu xài ra sao.

Khi một đất nước ngày càng minh bạch và lương thiện, từ xã hội đến chính quyền, người ta đưa và nhận, tin tưởng và minh bạch từng đồng tiền, một cách cẩn trọng và khiêm nhường trong hành động thì đó sẽ là một vốn quý về văn hóa của đất nước đó.

Khi đó người hoạt động xã hội quyên góp tiền được tin yêu, quan chức chính phủ được tin tưởng, người và người cho, nhận, và mượn trong sự minh bạch và tôn trọng. Đó thật sự là một xã hội văn minh.

Vì vậy đó là trách nhiệm của mọi người trong góp tay để làm minh bạch hóa những nghi vấn trong các hoạt động nhận và chi tài chính của các tổ chức xã hội, và ở đây bắt đầu từ các dự án từ thiện, từ nay trở về sau.

OL, 9.12.2016