Showing posts with label dân chủ. Show all posts
Showing posts with label dân chủ. Show all posts

4.12.22

Dân chủ trong đảng là như thế nào? Trường hợp đảng Bảo thủ ở Anh

Ở Việt Nam chúng ta thường nghe các tổng bí thư đảng Cộng sản hô hào từ năm này sang năm khác rằng phải tăng cường tính dân chủ ngay trong đảng. Nhưng cuối cùng thì quanh đi quẩn lại chỉ có các nghị quyết xào xáo lại còn đảng viên thì hầu như chẳng có mấy tiếng nói, mọi thứ đều được chỉ đạo từ trên. 

Vậy, ở các nước dân chủ, lấy ví dụ như Anh, vốn là một nước có truyền thống dân chủ lâu đời, việc thực thi dân chủ trong đảng của họ như thế nào. 


Dưới đây là trường hợp đảng Bảo thủ của Anh. 

24.6.21

Dân chủ trực tiếp ở Hoa Kỳ: Trường hợp công dân đuổi thống đốc Gavin Newsom ở California

Hôm nay, thống đốc bang California Gavin Newsom bị cách chức (recall) sau khi chiến dịch vận đông đuổi (recall) ông đã đạt được 1,7 triệu chữ ký có xác nhận. Đây là một hình thức của hoạt động lập pháp công dân (citizen legislation), tức các công dân trực tiếp thực hiện công việc lập pháp, mà không cần thông qua quốc hội. Lập pháp công dân là như thế nào, tại sao nó cần thiết, và nó giúp tăng cường dân chủ như thế nào. Đó là nội dung bài viết dưới đây. 

21.5.21

Làm sao để dân chủ hoá Việt Nam?



Đứng trước một nhà nước cộng sản được trang bị đầy đủ và mạnh mẽ, những người dân muốn có một đất nước tự do bỗng thấy bé nhỏ. 


Quân đội cộng sản quá hùng mạnh. An ninh cộng sản quá nhiều. Bộ máy tuyên truyền quá đông. Tài chính cộng sản quá dồi dào. Tổ chức cộng sản quá chặt chẽ. 


Đứng trước một lực lượng đối địch quá mạnh như vậy, nhiều người chọn cách hợp tác hoặc im lặng để sống qua ngày là một điều dễ hiểu. 


Một số học giả, nhất là học giả tháp ngà, nghĩ rằng không thể nào thay đổi chế độ và cách tốt nhất là góp ý để chế độ thay đổi từ từ. Những góp ý gửi đi để rồi bị vất vào sọt rác, vì sự tiến bộ xã hội mà các học giả mong muốn đi ngược với các quyền lợi của những lãnh đạo cộng sản cầm quyền.


Những lãnh đạo đảng Cộng sản có thể ít học, dù đầy bằng cấp, nhưng họ không ngu. Đừng đánh giá thấp họ. Vì họ không ngu nên họ không bao giờ muốn học sinh sinh viên được giáo dục trong tinh thần của chủ nghĩa tự do để Việt Nam có một xã hội tự do. Vì vậy mà chừng nào đảng Cộng sản còn độc quyền lãnh đạo, sẽ không bao giờ có cải cách giáo dục theo hướng khai phóng, tự do, và sẽ không bao giờ có tự do báo chí hay tự do tư tưởng. Mọi tư tưởng và niềm tin của nhân dân sẽ nằm dưới sự chỉ đạo và dẫn dắt của Ban Tuyên giáo. 


Cho nên đừng mất công kêu gọi cải cách giáo dục dưới chế độ cộng sản. Vô ích. Không phải những người như Phùng Xuân Nhạ và các vị bộ trưởng giáo dục trước đó tất cả đều ngu dốt. Đơn giản là vì họ không muốn và không thể cải cách dưới sự chỉ đạo của các lãnh đạo đảng Cộng sản.


Nhiều người bi quan hơn cho rằng chế độ cộng sản sẽ tồn tại mãi mãi. Cảm giác này giống như cảm giác của những người Đông Âu sống dưới chế độ cộng sản trước khi Bức tường Bá Linh sụp đổ 30 năm trước. 


Không một chế độ độc tài nào có thể tồn tại lâu dài, nhất là trong thời kỳ hiện đại hôm nay. Hãy lạc quan lên các bạn. 


Trong khu vực Đông Nam Á, thực ra chỉ còn mỗi Miến Điện và Việt Nam là hai nước đông dân chưa dân chủ. Ở Miến Điện, tình trạng giằng co giữa hai phe quân sự và dân sự rồi sẽ kết thúc. Kỷ nguyên hiện đại không ai có thể chấp thuận một chế độ quân sự tiếp tục tồn tại. 


Singapore đã từng là một người bạn rất thân với các tướng lãnh Miến Điện trong suốt một thời gian dài nhưng giờ đây họ cũng không thể chấp nhận việc tiếm quyền của các tướng lãnh này,  và họ đã lên tiếng. Singapore đã đi một bước dài trong cách họ thể hiện và thay đổi để chuyển sang thành một nước dần tôn trọng các giá trị dân chủ. 


Ở Thái Lan, việc tiếm quyền của phe quân sự cuối cùng rồi cũng sẽ kết thúc vì các nền tảng dân chủ ở Thái Lan đã bén rễ, các lực lượng đối lập đã hình thành, vấn đề chỉ còn là thời gian khi mà phe quân đội và giới bảo hoàng cuối cùng rồi cũng phải thừa nhận rằng quyền lực sẽ phải thuộc về nhân dân và hoàng gia đã dần mất đi uy tín, thực sự không còn chỗ đứng trong lòng dân chúng như xưa. 


Khi mà tất cả các nước khác trong khu vực Đông Nam Á trở nên dân chủ, một điều sẽ sớm xảy ra, thì dưới áp lực của khu vực và Hoa Kỳ, Việt Nam (và Lào) sẽ phải dân chủ hoá. Đơn giản là vì một nước Việt Nam dân chủ sẽ nghiễm nhiên trở thành một đồng minh chính thức của Hoa Kỳ. Việt Nam có một vị thế địa chiến lược quan trọng trong chiến lược Ấn Độ - Thái Bình Dương, và việc có thêm một đồng minh Việt Nam là một lợi thế của Hoa Kỳ trong cuộc cạnh tranh Mỹ-Trung vốn đang tiến đến hồi vô cùng gay gắt. Việc Việt Nam trở nên dân chủ do đó chỉ là vấn đề thời gian. 


Câu hỏi là chúng ta có thể thúc đẩy quá trình dân chủ hoá ở Việt Nam bằng cách nào? 


Có nhiều cách, nhưng cách hiệu quả nhất là tấn công vào điểm yếu nhất của chế độ cộng sản: đó là tính chính danh.


Người dân có thể không đọ được về sức mạnh quân sự, an ninh, tuyên truyền hay tiềm lực tài chính, truyền thông, nhưng họ, những người dân, có sự chính danh, và rằng những người dân mới chính là người bầu chọn nên chính phủ và chính quyền. Không một chính quyền nào được tự ý tiếm quyền nếu không qua bầu chọn của người dân.


Chúng ta không cần phải kêu gọi lật đổ chế độ chi cả, mà chỉ cần đòi hỏi một quyền tự do cơ bản của con người được thực thi: đó là quyền được có một cuộc bầu cử tự do và công bằng. 


Và khi một cuộc bầu cử như vậy diễn ra thì đó là lúc chế độ dân chủ thành hình. 


Muốn thắng bất kỳ một cuộc chiến nào, chúng ta cũng cần những đồng minh. Đồng minh của những người đấu tranh cho tự do Việt Nam trước hết là những người anh em Việt Nam. Có thể họ ở trong hay ngoài chính quyền, làm việc cho đảng Cộng sản hay không, không quan trọng. Cái quan trọng nhất là để cho họ thấy rằng việc đòi hỏi một cuộc bầu cử tự do nó không làm hại ai cả, không xử bắn hay bỏ tù bất cứ ai. Nó chỉ đơn giản là chúng ta cùng ngồi xuống, cùng tìm cho mình những người lãnh đạo giỏi nhất, xứng đáng nhất của quốc gia để đưa dân tộc này sánh vai cùng với các quốc gia tiến bộ trên thế giới. 


Vũ khí duy nhất của những người tiến bộ, yêu tự do, do đó chỉ là tiếng nói, nhưng ẩn sâu trong đó là tấm lòng của họ đối với quê hương. Sức mạnh của họ nằm ở chính nghĩa và những đòi hỏi về tính chính danh của chế độ rằng những quyền căn bản của con người cần được tôn trọng, trong đó có quyền được ứng cử và bầu cử tự do.


Hãy nói lên những điều này theo cách riêng của bạn. Bởi vì, trong khu rừng, bạn chỉ nghe tiếng rít của loài dế nếu không có tiếng hót của loài chim. 


Nguyễn Huy Vũ

21.5.2021  

19.5.21

Khi nào Việt Nam có dân chủ?

Bài viết về Do Thái hôm trước có đề cập đến chuyện người Do Thái khi lập nước Israel đã thực hiện một nhà nước dân chủ ngay từ đầu. Lý do là vì có nhiều phe phái, tư tưởng khác nhau, và muốn nhận được một sự đoàn kết, vì mục tiêu chung, thì tất các phe phái phải thoả hiệp. Mà muốn thoả hiệp thì tất phải được chia quyền, có tiếng nói được lắng nghe, có người đại diện cho quyền lợi của mình, và như vậy phải có dân chủ. Dân chủ do đó là một cách tổ chức xã hội nhằm đảm bảo các tiếng nói khác nhau được lắng nghe, và nhằm đoàn kết quốc gia, tránh nội chiến. 

Dân Do Thái thật ra cũng như bao nhiêu dân tộc khác. Họ cũng chia rẽ, bè phái, cũng chống đối nhau. Những ngày đầu trước khi thành lập nước có lúc dân quân hai phe Do Thái chỉa súng bắn vào nhau. Nhưng sau đó thì họ lại làm hoà với nhau và thoả hiệp dựng xây tổ quốc. Đó không phải là chuyện lạ, vì nhiều dân tộc khác cũng từng chứng kiến như vậy. 


Nói như vậy để thấy rằng những thành tố làm tiền đề cho sự xuất hiện một chế độ dân chủ đó là phải có những nhóm người có tư tưởng khác nhau xuất hiện và sau đó buộc quốc gia phải tổ chức một chế độ dân chủ nhằm thoả hiệp các khuynh hướng này. Còn nếu một khi không thể thoả hiệp được thì một nhóm buộc phải dùng đến vũ lực để giải tán hoặc triệt tiêu những nhóm còn lại để tự mình độc tôn quyền lực nhằm dẫn dắt quốc gia. 


Quốc hội Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là quốc hội đa đảng đầu tiên của quốc gia. Sự xuất hiện của quốc hội và chính phủ đa đảng này là một sự thoả hiệp giữa đảng Cộng sản và các đảng phái quốc gia nhằm chia sẻ quyền lực trong việc cai trị quốc gia. Nếu các đảng phái không tấn công lẫn nhau và đảng Cộng sản không triệt tiêu tất cả hẳn Việt Nam ngày nay đã có một nền dân chủ. 


Ở Miền Nam, chế độ của tổng thống Ngô Đình Diệm cho người tiêu diệt và bắt bớ các đảng phái quốc gia còn lại, để cuối cùng hình thành một chế độ độc tài, tương tự như miền Bắc, nhưng dễ thở hơn nhờ có tự do kinh tế, đi lại, và một số tự do ngôn luận. 


Dân chủ thực sự ở miền Nam chỉ bắt đầu xuất hiện sau cuộc đảo chính tổng thống Ngô Đình Diệm. Nó xuất hiện là bởi vì lúc này có nhiều phe phái khác nhau. Chính quyền mới buộc phải thoả hiệp hay cố gắng thoả hiệp nhằm tránh xung đột dẫn tới nội chiến quốc gia. Và việc thoả hiệp đó dẫn tới một tình trạng mới của quốc gia mà ở đó các quyền tự do ngôn luận, biểu đạt được thực hiện một cách rộng rãi, bên cạnh các quyền về tự do chính trị như bầu cử, ứng cử.


Nhiều học giả khi nghiên cứu sự hình thành các nền dân chủ cho rằng một khi dân số trở nên giàu hơn, xuất hiện một tầng lớp trung lưu, thì tầng lớp này sẽ đòi hỏi và duy trì dân chủ. Điều này không hẳn đúng. Nếu giàu có là một tiền đề dẫn đến dân chủ thì không thể nào lý giải được tại sao các nước rất giàu có, hoặc bắt đầu giàu có, nhưng người dân hoàn toàn không có những đòi hỏi nào về dân chủ hoặc có nhưng rất yếu ớt. Các nước dầu mỏ giàu có ở Trung Đông hay các tỉnh duyên hải của Trung Quốc là một ví dụ. Ngược lại, nhiều nước trở nên dân chủ khi họ còn đang nghèo, khá thiếu thốn, hoặc chỉ vừa khấm khá. Indonesia và Hàn Quốc là hai ví dụ như vậy. 


Indonesia là một đất nước vô cùng đa dạng. Đó đúng hơn là một hệ thống các đảo quốc. Và họ trở nên dân chủ từ cách đây 20 năm, khi mức thu nhập quốc gia đầu người chỉ bằng khoảng một phần ba Việt Nam hiện nay. Đối với sự đa đạng của Indonesia, để dẫn dắt quốc gia chỉ có thể giải quyết bằng hai cách như đã trình bày ở trên. Đó là hoặc một lực lượng độc tài triệt tiêu tất cả những nhóm chống đối còn lại và lãnh đạo quốc gia bằng bàn tay sắt, và đó là cách mà các viên tướng đã cầm quyền quốc gia trước khi có dân chủ. Họ đã dùng vũ lực tàn sát tất cả các lực lượng cộng sản và trấn áp đối lập để thực thi việc cầm quyền trong nửa thế kỷ. Cách thứ hai đó là thực thi dân chủ, đối thoại và thoả hiệp với các tổ chức khác nhau. Sau mấy mươi năm dưới chế độ quân sự, các thế hệ trẻ xuất hiện cùng với các tư tưởng mới nảy sinh và đó là nền tảng cho sự xuất hiện các nhóm đối lập về tư tưởng, quyền lợi buộc Indonesia phải dân chủ hoá nếu muốn tồn tại. 


Tiến trình dân chủ hoá ở Hàn Quốc cũng tương tự như ở Indonesia. Tướng Phác Chính Hy đã dẫn dắt quốc gia trong suốt 17 năm biến đất nước từ chỗ là một quốc gia hỗn loạn và nghèo đói trở thành một quốc gia khấm khá, ngang bằng với mức sống của người dân Việt Nam ngày nay, thì bị ám sát bởi giám đốc cơ quan tình báo quốc gia, đồng minh thân cận của ông ngay trong Nhà Xanh. Tướng Chun Doo-hwan, sau các cuộc chỉnh lý, lên thay làm tổng thống. Quá trình dân chủ hoá ở Hàn Quốc bắt đầu phát triển mạnh từ đây khi mà Chun Doo-hwan không thể triệt tiêu được các nhóm đối lập khác nhau, hiện diện cả trong giới quân sự và dân sự. Việc cầm quyền quốc gia sau đó buộc phải thông qua bầu cử nhằm có được tính chính danh, nếu không muốn nổi loạn. 


Quá trình dân chủ hoá ở Đài Loan cũng tương tự dù khi thực hiện dân chủ hoá Đài Loan đã là một nền kinh tế có thu nhập cao. Mầm mống dân chủ của Đài Loan xuất hiện chỉ sau khi Tưởng Giới Thạch chết, mở đường cho các nhóm quyền lực khác nhau lớn mạnh. Tưởng Kinh Quốc lên nắm quyền nhưng không thể cai trị bằng bàn tay sắt như cha của ông. Ông buộc phải thoả hiệp với các nhóm quyền lực khác nhau nhằm duy trì quyền lực. Sự lớn mạnh của các nhóm quyền lực khác nhau sau đó buộc Lý Đăng Huy, tổng thống kế tiếp, phải hợp pháp hoá vị trí tổng thống thông qua bầu cử, thực hiện dân chủ hoá.


Trở lại Việt Nam, câu hỏi là chừng nào Việt Nam có dân chủ? Nếu nhìn lại những kinh nghiệm lịch sử ở trên thì chúng ta sẽ thấy rằng những thành tố cho quá trình dân chủ hoá của Việt Nam đã bắt đầu hình thành. Đó là sự xuất hiện của các nhóm có tư tưởng khác nhau. Bốn năm dưới thời chính quyền tổng thống Donald J Trump, người Việt chứng kiến hai nhóm có tư tưởng khác nhau rõ rệt, một nhóm cánh tả và một nhóm cánh hữu, điều chưa từng có bao giờ sau gần nửa thế kỷ. 


Đó là một điều đáng mừng. Đáng mừng là vì nếu sau gần nửa thế kỷ mà người Việt chỉ có đi theo một trào lưu hay một tư tưởng, dù tả hay hữu, thì chắc chắn họ sẽ không bao giờ có dân chủ. Nếu là hoàn toàn tả khuynh, chắc chắn họ sẽ chấp nhận một nhóm cánh tả nào đó dẫn dắt quốc gia, còn nếu hoàn toàn hữu khuynh chắc chắn chính trường Việt Nam sẽ hoàn toàn bị khống chế bởi một đảng cánh hữu tương tự như Singapore. Dân chủ trước hết phải có sự hiện diện của các nhóm đối lập nhằm kiểm soát và cân bằng. 


Cái mà người Việt đang thiếu đó là sự kết hợp và kết thân của những người có cùng tư tưởng với nhau. Nhưng điều đó sẽ đến sớm thôi, nhất là trong thời đại thông tin lập tức như hiện nay. Và khi mà những nhóm người có các tư tưởng khác nhau được hình thành trong xã hội, trong chính quyền, và trong quân đội, thì Việt Nam buộc phải dân chủ hoá nếu không muốn thấy nội chiến. 


Nguyễn Huy Vũ

19.5.2021

3.2.21

Miến Điện: Cuộc hôn nhân dân chủ sụp đổ

Hôm 1/2, thế giới chứng kiến một cuộc đảo chính xảy ra ở Miến Điện. Phe quân đội bắt giam Aung San Suu Kyi, các nghị sỹ và các lãnh đạo vùng của Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ (NLD). Phe quân đội cáo buộc rằng cuộc bầu cử vào tháng 11 năm rồi là gian lận và họ sẽ tổ chức một cuộc bầu cử mới vào năm sau. Nhưng những người có hiểu biết đều biết rằng đó chỉ là cái cớ và cái cớ này là một cách để quân đội cố gắng lấy lại quyền lực của mình. 



Mười năm trước, đứng trước sự cô lập của thế giới và sự khủng hoảng của nền kinh tế, các tướng lãnh Miến Điện quyết định chấm dứt sự lệ thuộc của mình vào Trung Quốc và bắt tay với đảng NLD hòng mở ra một con đường mới cho mình, và có lẽ cho dân tộc. 


Phe quân đội là một thực thể thống trị bao trùm Miến Điện trong một thời gian dài. Họ có quyền lực lẫn kinh tài, nắm trong tay tất cả những lĩnh vực kinh tế trọng yếu của quốc gia. Việc hợp tác với Aung San Suu Kyi và đảng NLD của bà nhằm mục đích mở cánh cửa Miến Điện ra với các nước phương Tây. Vì cho đến lúc này Aung San Suu Kyi là nhân vật nhận được nhiều thiện cảm nhất với phương Tây và có thể đóng vai trò như chiếc cầu nối giúp Miến Điện thoát khỏi tình trạng bị cô lập. Càng gần với phương Tây, thoát khỏi tình trạng cô lập, thì phe quân đội càng có nhiều đòn bẩy trong ngoại giao hơn, bớt bị áp lực chèn ép bởi Trung Quốc, lại có thêm nhiều cơ hội để kinh doanh. Đó là lý do mà phe quân đội chọn cách hợp tác với Aung San Suu Kyi. 


Hợp tác với Aung San Suu Kyi và đảng NLD trong tiến trình gọi là dân chủ hoá nhưng phe quân đội đã chuẩn bị sẵn mọi thứ. Họ viết sẵn hiến pháp với những điều khoản trong đó cho phép quân đội hiện diện trong các cơ quan hành pháp và kiểm soát an ninh quốc gia. Về lập pháp, hiến pháp quy định rằng quân đội được chia một phần tư số ghế trong quốc hội nhà nước và một phần ba số ghế ở các cơ quan lập pháp bang. Về chính phủ, ba bộ quan trọng của quốc gia gồm Bộ Nội vụ (Ministry of Home Affairs), Bộ Biên giới (Ministry of Border Affairs) và Bộ Quốc phòng (Ministry of Defense) đều phải thuộc về quân đội. Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm về các vấn đề an ninh nội địa của Miến Điện. Bộ Biên giới chịu trách nhiệm về các chính sách đối với các vùng biên giới vốn có các sắc dân thiểu số cư trú. Và Bộ Quốc phòng nắm giữ khí tài và binh quyền. Nắm cả ba bộ này coi như nắm toàn bộ quyền lực của quốc gia. 


Nhưng chưa hết, hiến pháp còn quy định cả một cách bầu cử tổng thống và hai phó tổng thống rất đặc biệt. Đặc biệt bởi vì bầu kiểu gì thì cũng có người quân đội nằm bên trong cơ quan hành pháp cao nhất của quốc gia. Cách bầu tổng thống như sau. Các đại diện của Hạ viện nhóm thành một uỷ ban, các đại diện của Thượng viện thành một uỷ ban thứ hai, và phe quân đội với các đại diện thành uỷ ban thứ ba. Mỗi uỷ ban đề cử một ứng viên làm tổng thống. Cả ba ứng viên này đưa ra quốc hội bầu. Ai phiếu cao nhất làm tổng thống, hai người phiếu thấp hơn làm phó tổng thống. Với cách bầu này, lúc nào phó tổng thống cũng là người của quân đội. 


Để có được ảnh hưởng chính trị hơn nữa, phe quân đội còn lập ra một đảng chính trị có tên gọi đảng Đoàn kết và Phát triển Quốc gia (Union Solidarity and Development Party, USDP), và để đảng này chạy đua trong cuộc bầu cử. 


Aung San Suu Kyi và đảng NLD cũng có những tính toán riêng của mình. Khi chấp nhận hợp tác với phe quân đội, Aung San Suu Kyi sẽ có điều kiện hơn trong việc tiếp xúc với quần chúng, đưa ra những thông điệp thông qua các phương tiện truyền thông nhiều hơn. Và để từ đó xây dựng lực lượng ủng hộ lớn hơn nhằm áp lực lên những thay đổi chính trị. Mục tiêu cuối cùng là sửa đổi hiến pháp. 


Mười năm nhìn lại mối quan hệ này, Aung San Suu Kyi và đảng NLD của bà được nhiều hơn mất. Sự ủng hộ của người dân dành cho đảng NLD của bà ngày càng lớn, và đó là lý do mà NLD đã thắng đậm, hơn hẳn kỳ bầu cử năm 2015. 


Ngược lại, phe quân đội hầu như không nhận được những gì như mong đợi. Miến Điện vẫn còn là một đối tác quá xa lạ với phương Tây. Giới quân đội tiếp tục bị cấm vận và trừng phạt kể từ sau vụ khủng hoảng người Rohingya. Ảnh hưởng chính trị của quân đội ngày càng suy yếu. Và điều quan trọng là con bài Aung San Suu Kyi trong mắt phe quân đội không còn giá trị nữa khi Aung San Suu Kyi đã bị thế giới phương Tây tẩy chay và lên án.



Lúc này, phe quân đội đứng giữa hai chọn lựa: hoặc là chấp nhận để NLD khống chế chính trường, ngày càng lớn mạnh, và một ngày nào đó, làm suy yếu và hất cẳng phe quân đội; hoặc là phe quân đội phải ra tay trước nhằm chặn sự bành trướng của NLD. Cuối cùng, phe quân đội đã quyết định lựa chọn thứ hai.


Có hai sai sót lớn mà Aung San Suu Kyi đã mắc phải trong 10 năm qua, kể từ sau khi chính thức bước lên vũ đài chính trị. 


Sai sót đầu tiên đó là bà đã im lặng trong vụ thảm sát người Rohingya. Dẫu biết rằng đó là một cuộc xung đột phức tạp có nguồn gốc lịch sử, nhưng việc thể hiện mình là một biểu tượng của hoà giải và bao dung không những chỉ giúp xây dựng hình ảnh và uy tín của mình mà còn giúp hàn gắn các dân tộc khác nhau trên cùng đất nước Miến Điện. Khi không thể bao dung với những người khốn cùng trên cùng một đất nước mình thì làm sao có thể bao dung với đối thủ của mình trong phe quân đội? Và đó có thể là lý do mà phe quân đội luôn nghi ngờ phe NLD không thực chất hợp tác. 


Ở đây, cần nói thêm một chút về người Rohingya. Họ được cho là người ở vùng phía Bangladesh di cư sang Miến Điện từ thời Anh đô hộ vùng này. Đa số người trong họ theo Hồi giáo nhưng ngày nay họ gắn bó với nhau nhờ vào văn hoá, ngôn ngữ, và lịch sử hơn là tín ngưỡng tôn giáo, vì có một thiểu số người theo Ấn giáo trong cộng đồng này. Ngày nay, họ là những người vô tổ quốc. Miến Điện không công nhận và không cấp hộ chiếu cho họ, hoặc cấp với những điều kiện không thể đáp ứng. Và vì không phải công dân Miến Điện, họ không được đi học lên bậc phổ thông, không được dùng các bệnh viện công của chính phủ, không được bầu cử, và cũng không thể xin các công việc của chính phủ như cảnh sát, giáo viên. Họ bị hạn chế đi lại và bị cáo buộc có liên quan đến các nhóm khủng bố Arab Saudi. Vào tháng 8 năm ngoái, nhóm vũ trang của lực lượng người Rohingya đã tấn công đồn cảnh sát, giết chết 12 cảnh sát viên. Phe cảnh sát tấn công lại trả thù, giết chết khoảng 400 đến 1000 người. Xung đột bạo lực và bế tắt là những gì có thể miêu tả về tình cảnh cộng đồng người Rohingya. 


Sai sót thứ hai là bà đã không thúc đẩy để mở cửa Miến Điện nhanh chóng hơn. Mà một hậu quả đó là giờ đây, thậm chí khi các nước phương Tây muốn tạo áp lực lên phe quân đội thì họ cũng khó có thể tìm được một đòn bẩy nào. 


Chính trị là hoạt động của thoả hiệp. Và trong trường hợp của Miến Điện, giai đoạn thoả hiệp dưới lá cờ dân chủ vừa kết thúc. Tương lai của đất nước một lần nữa phụ thuộc vào quyết chí của người dân.


Nguyễn Huy Vũ

3.2.2021