12.4.26

Công pháp quốc tế và hiện thực chính trị

Khi Hoa Kỳ (cùng với Israel) tấn công Iran, nhiều người chỉ trích rằng Hoa Kỳ vi phạm công pháp quốc tế. 

Câu hỏi, một cách thực tế, là có tồn tại cái gọi là “công pháp quốc tế” không?  Điều đáng buồn là không chắc. 

Luật pháp chỉ có giá trị nếu nó có khả năng chế tài. Nó không chỉ cần giới lập pháp ra luật, mà còn cần giới tư pháp xét xử, và giới hành pháp thi hành luật. Người đại diện cho giới hành pháp để bảo đảm luật được thực thi là lực lượng cảnh sát. Không có cảnh sát, việc ra luật và cho dù được xét xử thì vụ việc cũng trở nên vô nghĩa — vì không có chế tài. Điều này đúng ở cả bình diện quốc gia lẫn quốc tế. 


Về mặt hiện thực chính trị, hệ thống quốc tế hiện nay là vô chính phủ (tức không có một chính phủ toàn cầu). Nó không có một cơ quan lập pháp đại diện cho tất cả mọi người trên hành tinh. Nó không có một toà án quốc tế xét xử tất cả mọi vụ việc. Và quan trọng hơn, nó không có một cảnh sát quốc tế chịu trách nhiệm đứng trên tất cả để duy trì công lý và công pháp. 


Liên Hiệp Quốc là một hệ thống hợp tác lỏng lẻo giữa các quốc gia dựa trên quyền lợi riêng của mình. Nó không có một cơ quan lập pháp chung, không có một cơ quan đảm nhiệm việc xét xử một cách công bình, và nó cũng không thể chế tài một cách rốt ráo những lãnh đạo vi phạm những tiêu chuẩn chung được đặt ra. Một ví dụ buồn cười nhất đó là nó chấp nhận cho Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng sản, một tổ chức đã vi phạm tất cả các điều khoản của Công ước các quyền tự do về chính trị và sẵn sàng đàn áp tất cả các tiếng nói đối lập, trở thành một thành viên thường trực của Uỷ ban Nhân quyền Liên Hiệp Quốc, tức một cơ quan chịu trách nhiệm giám sát và thực thi nhân quyền trên thế giới. Có lẽ chỉ có ở Liên Hiệp Quốc, người ta mới tạo ra một cơ chế cho phép một tên cướp đóng luôn vai quan toà. Tôi không dùng từ nặng đâu, nhưng thực tế thì nó là như vậy. Trừ khi Liên Hiệp Quốc cải tổ cơ chế của mình, tiếng nói và uy tín của Liên Hiệp Quốc sẽ trở nên mất đi khi nó không gắn liền với nguyện vọng chính trị của nhân dân.


Trong một hệ thống như vậy — không có một quan toà quốc tế, cũng như không có một cảnh sát trưởng chịu trách nhiệm chế tài các vi phạm, các quốc gia không thể chắc chắn hiểu hết ý định của nhau. Và để tự bảo vệ chính mình, họ phải tự tích luỹ quyền lực tối đa. Điều đó dẫn đến việc các cường quốc luôn có xu hướng tìm cách thống trị khu vực, và xa hơn là toàn cầu. 


Từ rất lâu, ít nhất là kể từ khi Hoa Kỳ thay thế Anh để trở thành cường quốc thế giới, Hoa Kỳ đã đảm nhiệm vai trò một cách không chính thức, ở một số khía cạnh nào đó, như một cảnh sát trưởng. Nhờ có Hoa Kỳ tuần tra giúp bảo đảm an ninh hàng hải mà hệ thống tàu biển của nhiều nước được di chuyển trôi chảy. Hoa Kỳ can thiệp vào các cuộc chiến vì lý do nhân đạo như ở Kosovo để ngăn nạn diệt chủng. Hoa Kỳ chống khủng bố. Hoa Kỳ duy trì hiện diện quân sự toàn cầu để bảo đảm năng lực răn đe và phản ứng nhanh khi có khủng hoảng xảy ra. Hoa Kỳ can thiệp quân sự trực tiếp vào các quốc gia để ngăn chặn đối thủ, bảo vệ đồng minh, và duy trì “trật tự quốc tế” như trong các cuộc chiến ở Hàn Quốc, Việt Nam, chiến tranh Vùng Vịnh, Afghanistan, Iraq, và giờ là Iran — những cuộc chiến mà Hoa Kỳ bị chỉ trích với những lý do khác nhau. Không phải tất cả những can thiệp quân sự của Hoa Kỳ đều đúng, nhưng ít nhất, nhờ ở sứ mệnh xiển dương dân chủ và tự do của mình, sức mạnh quân sự và chính trị của Hoa Kỳ đã giúp cổ võ và đem lại một thế giới tự do hơn — hãy tưởng tượng nếu không có sức mạnh quân sự của Hoa Kỳ, thế giới ngày nay hẳn sẽ sống dưới sự ảnh hưởng của những chế độ độc tài kiểu Đức Quốc xã hoặc cộng sản Liên Xô. Hay thậm chí hiện nay, cho dù nhiều người và nhiều nước chống Hoa Kỳ kịch liệt trong cuộc chiến ở Iran, họ cũng đồng ý rằng chế độ thần quyền Iran là một chế độ tàn bạo và họ sẽ không thương tiếc khi nó phải ra đi — nhưng điều buồn cười là họ không nhận thấy rằng chỉ nhờ ở Hoa Kỳ với năng lực tấn công vượt trội thì chế độ thần quyền Iran mới có khả năng phải ra đi. 


Luật pháp là vũ khí của kẻ yếu. Kẻ yếu chỉ có thể dựa vào một nền luật pháp công minh để bảo vệ mình. Ở bình diện quốc gia cũng như quốc tế. Người dân sống trong các chế độ độc tài hơn ai hết hiểu về điều này. Họ muốn có một nền luật pháp công minh, với lẽ công bằng, và mọi người đều như nhau trước pháp luật — để đối chọi lại quyền lực tuyệt đối của giới cầm quyền độc tài. Đó là ước mơ của kẻ yếu trước thực tại chính trị, chừng nào mà cán cân quyền lực của mình với giới cầm quyền còn quá nhiều chênh lệch. Chỉ khi quyền lực của kẻ yếu (tức nhân dân) được nâng lên ngang bằng với kẻ cầm quyền (hoặc quyền lực của kẻ cầm quyền đột ngột suy giảm) thì lúc đó, sự cân bằng quyền lực mới dẫn đến một hệ thống tư pháp công bằng hơn, vì suy cho cùng tổ chức xã hội được hình thành từ sự thoả hiệp quyền lực giữa các nhóm khác nhau. 


Việc đạt được sự cân bằng quyền lực giữa người dân và kẻ cai trị trong một quốc gia — và điều này hình thành nên một chế độ dân chủ — dễ hơn nhiều so với việc đạt được sự cân bằng quyền lực giữa các quốc gia trên bình diện quốc tế. Lý do là sự khác biệt quá lớn giữa các quốc gia, từ con người, dân số, địa lý, và tài nguyên. Những quốc gia nhỏ mong muốn một nền công pháp quốc tế, còn những cường quốc muốn duy trì một hệ thống vận hành dựa trên sức mạnh chính trị và quân sự của mình. 


Lãnh đạo một quốc gia sẽ theo đuổi chiến lược như thế nào vì vậy sẽ tuỳ thuộc vào nội lực của chính mình. Một người có thể chỉ trích chính quyền Hoa Kỳ tấn công Iran. Một người khác cũng có thể chỉ trích chính quyền thần quyền Iran trong một tuần bách hại khoảng 45 ngàn người, không chính danh và không đại diện cho tiếng nói của người dân Iran. Điểm chung của cả hai vụ việc đó là không có một lực lượng quốc tế nào có thể đóng vai trò xét xử và chế tài, một cách công bằng. Và như đã nói, sẽ không tồn tại một thiết chế như vậy cho dù đã có sự cố gắng từ rất nhiều nước nhỏ, đặc biệt là ở châu Âu. Nó có thể tồn tại ở những khu vực riêng lẻ, nhưng chắc chắn không tồn tại ở bình diện thế giới, bởi lẽ đối với những cường quốc, một khi họ có thể sử dụng vũ lực thì họ không cần thiết phải mượn dẫn tới công pháp quốc tế để bảo vệ mình, và các cường quốc không muốn bị trói tay vào những luật lệ bị áp đặt bởi sự đồng thuận của các nước nhỏ — nó giống như là một sự từ bỏ quyền lực mang tính chủ quyền của mình. 


Những cường quốc có thể chấp nhận một số điều khoản nhất định như là một cách để duy trì ảnh hưởng của mình với những nước nhỏ và dùng quyền lực của mình để chế tài các nước nhỏ nếu họ không tuân thủ. 


Và như vậy, suy cho cùng, trật tự thế giới được hình thành dựa trên quyền lực tương đối của các cường quốc, và việc cổ vũ cho công pháp quốc tế chỉ là một cách để các nước nhỏ hơn muốn tạo cho mình một tiếng nói có giá trị hơn trong trật tự chính trị thế giới mà ở đó việc vận hành nó chủ yếu đến từ các cường quốc. 


Nguyễn Huy Vũ


12/4/2026