27.3.16

Đâu là cách một chính quyền độc tài duy trì quyền lực?


Đâu là những cách thức mà một chính quyền độc tài thực hiện nhằm duy trì quyền lực của mình và làm thui chột sự phát triển của phong trào dân chủ hóa đất nước? Dưới đây là một tóm tắt.

Nguồn: Internet.
1. Phá hoại đoàn kết phong trào.


(a) Có hai cách để phá hoại đoàn kết phong trào. Cách đầu tiên là thực hiện các chiến thuật nhằm tạo nên hiềm khích giữa các thành viên trong phong trào. Khi những thành viên cộm cán của phong trào hiềm khích nhau, phong trào mất đi khả năng lớn mạnh. 

(b) Cách thứ hai là gây chia rẽ hướng đi giữa các nhóm trong phong trào. Với một chiến dịch có khả năng gây hại cho nhà cầm quyền, các chiến lược được đưa ra nhằm tách phong trào thành hai nhóm đối chọi nhau, một nhóm ủng hộ và một nhóm chống đối chiến dịch. Bằng cách đó, nhà cầm quyền bẻ gãy đi một nửa sức mạnh của phong trào. Với một phong trào còn non yếu, chiến dịch, vốn có khả năng gây hại cho nhà cầm quyền, tự nó sẽ giải tán. 


2. Làm chệch hướng dư luận. Khi những sự kiện, vốn bất lợi cho nhà cầm quyền, bắt đầu thu hút được sự chú ý của dư luận, nhà cầm quyền, thông qua các phương tiện truyền thông, tung các tin tức và sự kiện gây chú ý khác nhằm lái dư luận sang một hướng khác và làm nguội đi sự tập trung của dư luận đối với sự kiện đầu. 


3. Dùng nội gián. Bằng cách nuôi dưỡng những dư luận viên cấp cao hoặc những nhà dân chủ cuội nhà cầm quyền thao túng được phong trào. Những dư luận viên cấp cao sẽ luôn thể hiện mình là những người ủng hộ dân chủ, và bằng nhiều cách khác nhau thu hút sự chú ý của dư luận. Đến thời điểm cần ngăn chặn một chiến dịch của phong trào dân chủ, dư luận viên ra tay định hướng dư luận. Loại nội gián thứ hai là những nhà dân chủ cuội. Những nhà dân chủ cuội hô hào khởi xướng những phong trào hay các đảng phái, nhiệt tình chống chính quyền và kêu gọi người dân tham gia để rồi lưu lại bằng chứng nhằm bỏ tù những nhân vật có khả năng gây hại cho chính quyền. 


4. Mị dân. Nhà cầm quyền mị dân bằng nhiều cách khác nhau để kéo dài sự hi vọng của nhân dân vào một sự đổi thay sắp đến. Đó có thể là những phát ngôn ấn tượng thể hiện nguyện vọng của nhân dân rồi sau đó thì “vũ như cẩn”. Đó có thể là kêu gọi đưa ra một bộ luật hợp lòng dân, và rồi sau vài lần nhấc lên hạ xuống thì khất để sang năm. 


5. Xì hơi quả bong bóng. Trong trường hợp đối diện với sự bức xức của người dân và thấy rằng nó có khả năng giúp người dân qui tụ quanh phong trào dân chủ, nhà cầm quyền sẽ có động thái nhằm làm giảm bong bóng bức xức của người dân. Đó có thể là kỉ luật một anh cán bộ nào đó, sau đó thuyên chuyển sang vị trí khác. Đó cũng có thể là những tuyên bố ấn tượng và rút sợi dây kinh nghiệm. Đó cũng có thể là những dàn xếp phía sau những bức tường. 


6. Mua chuộc. Nhà cầm quyền có thể mua chuộc một vài cá nhân trong phong trào bằng cách chìa cây gậy và củ cà rốt ra để hứa hẹn với những cá nhân cộm cán của phong trào. Nếu anh từ bỏ con đường đấu tranh cho dân chủ thì nhà nước sẽ tạo điều kiện cho công việc. 


7. Lợi dụng uy tín. Để tăng tính chính danh của mình nhà cầm quyền liên tục dùng các phương thức khác nhau để kéo các trí thức có tiếng về phía mình, cùng lúc đó là dùng các cơ hội khác nhau để đánh bóng tên tuổi các trí thức qui thuận nhà cầm quyền. Đó là sự vinh danh qua các giải thưởng, các hợp đồng béo bở, các vị trí công việc nhiều bổng lộc. Việc tặng thưởng cho các trí thức uy tín mang hai ý nghĩa cho nhà cầm quyền. Một mặt, nó là một lý cớ cho nhà cầm quyền tuyên truyền cho tính chính danh của mình rằng những trí thức uy tín nhất đều coi nhà cầm quyền là đại diện của đất nước, của dân, do dân, và vì dân. Một mặt khác, bằng cách trao tặng những giải thưởng cho các trí thức lớn nó cũng giúp tăng thêm uy tín của giải thưởng của nhà cầm quyền. Những bổng lộc gửi tới các trí thức, cùng những cái bắt tay, trò chuyện thân tình, mộc mạc, có tác dụng đi vào lòng người gấp nhiều lần những khẩu hiệu khô cứng. Những thiện cảm có được từ đó của các trí thức với nhà cầm quyền một cách tự nhiên kéo trí thức gần lại với nhà cầm quyền, để quên rằng họ là những nhà độc tài tham nhũng và đã bỏ tù những tiếng nói khác biệt. 


8. Xây dựng những hình ảnh choáng ngợp. Nhà cầm quyền ở các chế độ độc tài luôn cố gắng thể hiện mình là những lãnh đạo vì nước vì dân. Và một cách dễ nhất để gây ấn tượng với người dân nước họ là cố gắng xây dựng những công trình ấn tượng với nhiều cái nhất. Tòa nhà cao nhất, sân vận động to nhất, thành phố xanh sạch nhất, sân bay hiện đại nhất, thám hiểm mặt Trăng sớm nhất, khu nghỉ dưỡng to nhất...Để rồi khi người dân tin vào tài lãnh đạo của nhà độc tài, họ cũng quên luôn một điều đơn giản rằng tay độc tài này đâu phải do dân bầu lên, và nếu có dân chủ, biết đâu ta có thể chọn nên một lãnh đạo ít nhất cũng tài giỏi không kém gì vì nếu không ai tài hơn nhà độc tài nọ thì anh ta vẫn có thể sẽ tiếp tục công việc của mình. 


9. Ngu dân. Để người dân khỏi hình thành những đòi hỏi dân chủ, nhà cầm quyền thông qua chính sách văn hóa giáo dục thực hiện chính sách ngu dân. Một vài trong các chính sách này là bóp méo các dữ kiện lịch sử theo hướng có lợi cho nhà cầm quyền, hạn chế báo chí tự do, cấm đưa các tin không tốt tới chính quyền, thực hiện một chính sách giáo dục rập khuôn, hạn chế phản biện, không tập trung vào các đề tài dân chủ, nhân quyền. 


10. Đàn áp cá nhân. Cách dễ nhận thấy và là điểm chung nhất của các chế độ độc tài là đàn áp những cá nhân nói lên tiếng nói khác biệt khi họ thấy những tiếng nói này có thể đẩy đất nước theo hướng dân chủ hóa, bất lợi cho nhà cầm quyền. Các biện pháp bao gồm: áp lực lên chỗ làm việc nhằm cắt hợp đồng hoặc không cho vào biên chế, cho người hăm dọa, canh gác, đánh lén, bỏ tù, trục xuất, thậm chí thủ tiêu, hoặc kiện cho tan gia bại sản. 


Trên đây là vài trong số rất nhiều các biện pháp mà những nhà cầm quyền độc tài thực hiện nhằm duy trì quyền lực của mình. Biết được điều đó trước hết giúp chúng ta có cơ hội chiêm nghiệm và hiểu biết hơn ý nghĩa đằng sau các chính sách, hành động, và phát ngôn của các lãnh đạo chính trị, nhất là ở các nước độc tài. Với những cá nhân dấn thân vận động cho dân chủ hóa ở một đất nước, chú ý đến những điều trên có thể giúp họ có được những nhận xét và phán đoán chính trị tốt hơn để từ đó đưa ra cách hóa giải nhằm thúc đẩy đất nước ngày càng trở nên văn minh và dân chủ.


Nguyễn Huy Vũ

Minneapolis, 19.2.2016

Dấn thân và Xã hội


Nếu hỏi tôi một học giả Việt Nam hiện đại, người tạo ra những ảnh hưởng lớn lao cho tôi những ngày còn rất trẻ, tôi sẽ không nghĩ mà đáp rằng đó là Nguyễn Hiến Lê. Những quyển sách của ông luôn chứa đựng những bài học và tri thức mà bất cứ ai cũng nên đọc. Ngày còn nhỏ, vì muốn chóng thành công trong cuộc đời mà tôi lùng tìm tất cả những cuốn sách của ông, đọc đi đọc lại với mơ ước trang bị hết cho mình những kỹ năng trước khi vào đời, cái cảm giác giống như một môn sinh võ đạo ráng học hết những công phu của thầy trước khi xuống núi. Cuộc đời ông còn là một tấm gương sáng đáng để cho hậu thế ngưỡng mộ. Ông không có một bằng cấp cao nhưng những gì ông để lại và gây ảnh hưởng cho những thế hệ sau nó vĩ đại hơn gấp nhiều lần tấm bằng ông có được mà theo tiểu sử ông mới chỉ tốt nghiệp trường Cao đẳng Công chính ở Hà Nội trước khi vào miền Nam làm việc và gắn bó hết phần còn lại của cuộc đời mình. Cho đến khi ông mất, người ta khó khăn lắm mới tìm được mộ của ông nằm khiêm tốn ở sân vườn một ngôi chùa miền Tây Nam Bộ.



Trẻ em vùng cao. Nguồn: Internet.



Trong một quyển sách của ông, nhằm lý giải cho con đường mình chọn, ông có kể một câu chuyện như sau. Trong một lần đi xa, giữa trưa ngang qua một cánh đồng trơ trọi, vừa nắng vừa mệt, bỗng ông thấy một gốc cây to tỏa bóng râm mát cả một vùng rộng lớn, hương hoa thoang thoảng thơm trong gió. Ngồi uống ngụm nước ông thầm cám ơn người nào đó đã có công trồng và chăm sóc cây. Sau đó ông tâm sự, ước gì trong xã hội này mỗi người ai cũng cố gắng trồng thêm một cây hẳn cả cộng đồng đều được hưởng thêm nhiều bóng mát. Rồi ông thêm, với mỗi người, làm tốt công việc của mình trong bổn phận của nghề nghiệp và gia đình là chưa đủ mà chúng ta còn có thể làm cho xã hội tốt đẹp hơn bằng việc làm thêm một điều gì đó cho cộng đồng, như người nông dân nào đó đã trồng cái cây để có bóng mát cho người qua đường. Và cũng vì chúng ta là một phần của xã hội, hưởng thụ và trưởng thành từ nó, làm thêm một điều tốt cũng là một cách trả cái ơn cộng đồng đã nuôi ta khôn lớn. Vì nghĩ như vậy mà cả cuộc đời của ông là một tấm gương dấn thân vĩ đại.

Những ngày ở Mỹ, tôi luôn cố gắng tìm hiểu điều gì khiến người Mỹ dựng xây nên một đất nước thành công, và điều gì khiến người Mỹ khác với những tổ tiên họ, những người còn ở châu Âu lục địa hay ở các vùng khác trên toàn thế giới. Cuối cùng tôi nhận ra một điều đó là sự dấn thân. Người Mỹ dấn thân nhiều hơn dân ở các nước khác. Nếu chỉ nhìn ở bảng xếp hạng các quốc gia bố thí nhiều nhất, nơi mà người Mỹ được xếp hạng thứ 2 sau người Miến Điện, nó chỉ cho ra một con số mà chỉ đến khi ở Mỹ và quan sát mới thấy hết ý nghĩa đằng sau của con số đó.

Tinh thần dấn thân của người Mỹ có mặt ở mọi thành phần xã hội. Ở các diễn đàn, trí thức Mỹ tranh luận công khai đủ mọi chủ đề từ kinh tế, văn hóa, chính trị, đến xã hội. Người cho rằng nước Mỹ đi xuống, người bảo nó đi lên. Người bảo Trung Quốc khủng hoảng, người bảo chưa. Người ủng hộ mậu dịch tự do, người phản đối. Người bảo cấm bán súng, người ủng hộ. Bất cứ chính sách nào hay ý kiến nào cũng có người ủng hộ và người chống. Nhờ tranh luận công khai như vậy mà người dân và giới làm chính sách hiểu hơn về các vấn đề. Nếu có một hành động nào mà sai lầm thì cũng nhanh chóng được sửa. Ở các hoạt động đời thường, những ai lần đầu đến Mỹ cũng nhận được nhiều sự giúp đỡ của những người bình dị xung quanh và ở các hội đoàn một cách miễn phí và vô vị lợi. Đó là ở những nhà thờ nơi mà bạn có thể nhận được quần áo và các đồ dùng nấu ăn. Đó là những trung tâm dạy tiếng Mỹ hay dạy nấu ăn miễn phí mà đa số đều được vận hành bởi các thiện nguyện viên. Chính vì được đón chào và nhận nhiều như vậy, những người đến Mỹ dần dần cũng tự hình thành nên một văn hóa dấn thân nhiều hơn cho cộng đồng, giúp đỡ những người khác như một cách trả ơn những gì họ đã nhận. Dần dà họ hình thành nên một văn hóa cho nhận mà có đến Mỹ mới thấy họ thân thiện và chân tình.

Nhưng cũng như bất kỳ văn hóa nào, sự dấn thân cần được nuôi dưỡng và động viên. Đọc báo Mỹ chúng ta sẽ bắt gặp các tin các tỉ phú hiến phần lớn tài sản của mình cho công việc thiện nguyện. Từ việc chống đói nghèo ở các nước châu Phi, tới nghiên cứu các căn bệnh khó chữa, đến xây dựng trường học, bệnh viện, thư viện, hay các hoạt động nghiên cứu khác. Sự thiện nguyện của họ được lưu danh bằng cách đặt tên cho các quỹ hay các cơ sở mà họ hiến tặng. Đối với các hành động hiến tặng, người Mỹ ghi ơn rất cẩn thận. Thậm chí ở những sở thú hay bảo tàng, các chậu cây be bé hay các bức tranh được hiến tặng bởi cá nhân hay tổ chức đều được ghi tên rất chỉn chu. Không ai mà không tự hào khi thấy tên của các thế hệ bố mẹ, ông bà mình và biết được rằng họ đã làm những điều thiện nguyện cho cộng đồng.

Trong các sự dấn thân, có một hành động dấn thân lớn lao đó là dấn thân về chính trị. Tại sao gọi là lớn lao? Vì nếu như công việc bố thí hay giúp đỡ vài người bản thân nó chỉ có ảnh hưởng đến một vài người được nhận. Ngược lại, sự dấn thân về chính trị nếu thành công sẽ tác động đến tương lai và cuộc sống của không chỉ một vài người mà là cả một cộng đồng hay đất nước vài chục triệu người và kéo dài hàng thế hệ. Vì vậy mà sự dấn thân chính trị đứng đắn và lương thiện có thể nói là một hành động thiện nguyện lớn lao. Hãy thử hình dung những nhà vận động nhân quyền đem lại quyền bình đẳng cho người Mỹ da đen, hay rất nhiều những cá nhân dấn thân cho những đất nước tự do và thịnh vượng trên toàn thế giới. Họ là những tấm gương đáng ngưỡng mộ.

Với nhiều người Việt, làm gì thì làm đừng đụng đến chính trị. Nhưng người ta quên rằng cho dù mình né tránh chính trị thì chính trị cũng sẽ tìm đến mình. Chính trị là mức thuế chúng ta đóng hàng ngày, là chi phí để xây con đường ta đi, là tiền điện, tiền nước, tiền xăng, là y tế, giáo dục, là cảnh sát, là dân phố và quan phường, mà dù muốn dù không chúng ta đều chịu đựng. Do đó, khi nói rằng tôi không quan tâm chính trị đồng nghĩa với nói rằng tôi không quan tâm đến sự phát triển và thay đổi của cộng đồng dù biết rằng mình là một cá thể. Nhưng tâm lý sâu xa của một người dân khi nói tôi không quan tâm đến chính trị là tâm lý của một người dân thấp cổ bé miệng sợ bị rắc rối với chính quyền.

Đó là một tâm lý mà người Việt cần thay đổi. Vì dấn thân không những là làm một việc thiện nguyện hay là một cách trả ơn cho cộng đồng, mà ở đó bằng cách thúc đẩy những điều tiến bộ trong cộng đồng, chính chúng ta sẽ là những người đầu tiên được hưởng lợi. Đất nước được dựng xây từ chính những hành động của chúng ta ngay hôm nay.  


Nguyễn Huy Vũ

Minneapolis, 26.1.2016

Liệu có một tương lai nào cho Việt Nam?

Những người còn quan tâm đến đất nước trong chúng ta chắc một lúc nào đó sẽ tự hỏi rằng rồi đất nước này sẽ đi về đâu?

Năm 2012 trước khi rời Việt Nam, tôi có vài cuộc trao đổi thú vị với hai người. Một người là một chuyên gia kinh tế và một người là tổng giám đốc một ngân hàng. Trong cuộc trao đổi về tình hình khủng hoảng kinh tế tôi cho rằng chỉ có cải cách chính trị mới cứu vãn được nền kinh tế. Hai vị còn lại có ý kiến ngược lại, cho rằng chỉ cần cải cách kinh tế là đủ. Hai cuộc tranh luận riêng lẽ, cuộc tranh luận với vị giám đốc ngân hàng diễn ra sôi nổi hơn. Cuối cùng thì mỗi người giữ một quan điểm. Từ đó đến nay, kinh tế càng ngày càng đi xuống. Sự ổn định với lạm phát thấp chỉ chứng tỏ một điều là sức mua của nền kinh tế đã không còn. Nói một cách đơn giản hơn, người dân không còn tiền để mua sắm.

Muốn biết hiện trạng một nền kinh tế ra sao, hãy chịu khó đến thăm đất nước đó dù chỉ vài giờ, và hãy ghé những siêu thị đồ ăn, thay vì tin vào những con số kinh tế báo cáo. Việc ngày càng điều hiu và không khí mua sắm tẻ nhạt ở các siêu thị Sài Gòn so với cách đây vài năm chỉ chứng tỏ một điều kinh tế ngày càng khó khăn.

Miền núi Tây Bắc. Nguồn: Internet.


Vậy tại sao chỉ cải cách kinh tế không thôi thì không đủ để vực dậy nền kinh tế?

Thiếu hệ thống giám sát

Đọc sơ qua những thông tin trên báo chí chúng ta thấy có ba tin đáng chú ý sau. Một, Bộ Tài chính vay tiền để chi tiêu, vì cạn tiền. Hai, nhà nước tăng hoặc đề xuất thu thêm các loại phí. Và ba, bên cạnh chính quyền trung ương thực hiện các dự án kém hiệu quả như bô xít Tây Nguyên, quản lý thất thoát ở các tập đoàn nhà nước như Vinashin, các chính quyền cấp tỉnh thi nhau làm dự án để kiếm chác.

Tất cả những điều trên cho thấy rằng các đầu tư của nhà nước thất thoát và không hiệu quả, kinh tế không tăng trưởng đủ mạnh để có thể thu thuế về. Và giờ đây khi thuế thu không đủ, chính phủ đã cạn tiền nên bắt buộc phải đi vay mượn.

Nhưng chính phủ không thể vay mượn mãi. Sẽ đến một lúc chính phủ không thể vay mượn được nữa để chi tiêu thì lúc đó chỉ còn nước tuyên bố phá sản. Chính phủ có thể in tiền, nhưng in tiền ra để chi tiêu chỉ làm tăng vọt lạm phát như trường hợp của Miến Điện trước đây.

Một giải pháp được khuyến nghị là giảm bớt chi tiêu công. Nhưng trong một nước đang phát triển như Việt Nam, chính phủ cần phải chi tiêu để giúp nền kinh tế tăng trưởng. Chính phủ cần xây những trường học, những bệnh viện, những cầu cống, đường xá, hệ thống thông tin…đó là những dự án sẽ đem lại tăng trưởng kinh tế. Giảm bớt chi tiêu công đồng nghĩa với giảm bớt tăng trưởng, tăng mức thất nghiệp vốn đã đang ở mức báo động.

Giải pháp đúng đắn phải là chi tiêu hiệu quả. Như một doanh nghiệp đầu tư, tiền bạc khan hiếm, chính phủ cần đầu tư vào những dự án đem lại hiệu quả nhất, cho thu hồi vốn nhanh nhất, sau đó quay vòng vốn đầu tư cho những dự án khác.

Điều đó dễ nhưng mà khó. Khó là với một hệ thống chính trị hiện hành, không ai giám sát việc đầu tư của các chính quyền. Việc đầu tư vô tội vạ của các chính quyền giống như tình trạng giám đốc các công ty đem đầu tư những dự án kém hiệu quả, cuối cùng sẽ dẫn đến phá sản.

Chỉ trừ khi những quan chức chính quyền chịu sự giám sát của nhân dân thì việc thất thoát mới giảm.

Thiếu sự ổn định của pháp luật

Một cải cách kinh tế diễn ra mà không đi kèm với nó những cải cách chính trị cuối cùng chỉ làm giàu cho những nhóm lợi ích có quan hệ với chính quyền. Các hoạt động kinh doanh của các nhóm này sẽ nhờ các quan chức trong chính quyền bao che và ăn chia lợi nhuận.

Trong một hệ thống khi mà những diễn giải và xét xử về mặt luật pháp được độc quyền bởi một đảng thì đó là mảnh đất màu mỡ cho những nhóm thân hữu chính trị. Sự thao túng nền kinh tế của nhóm này sẽ đẩy những doanh nghiệp nhỏ ra khỏi thị trường. Cuối cùng nền kinh tế sẽ chỉ được thống trị bởi nhóm lợi ích chính trị này.

Thêm nữa, những đầu tư lớn đòi hỏi một khoản tài sản nhất định. Đó có thể là tài sản cả đời của một người. Nhà đầu tư trong nước chỉ dám bỏ vốn khi họ cảm thấy tài sản của họ được tôn trọng và chính quyền tôn trọng tài sản của họ. Mọi khiếu kiện liên quan đến tài sản đều được thực hiện công bằng, minh bạch thông qua luật pháp. Nhưng hệ thống hiện tại không cho người ta niềm tin như vậy. Nếu trong quá khứ có cải cách ruộng đất ở miền Bắc, đánh đổ tư sản ở miền Nam, thì gần đây có vụ ông Trịnh Vĩnh Bình về đầu tư rồi mất tài sản ở Vũng Tàu, vụ ông Trần Văn Trường ở Mỹ về đầu tư ở Đồng Tháp, vụ sự kiện công an phường ở Sài Gòn vào tịch thu niêm phong tiệm vàng, và hàng loạt các dân oan khác khi bị tịch thu đất đai nhà cửa.

Khi mà những tranh chấp tài sản bị chính quyền làm lơ và / hoặc cố tình tịch thu của người dân thì làm sao người dân còn tin vào chính quyền mà bỏ vốn ra đầu tư nữa?

Một điều dễ nhận thấy nữa đó là việc “loạn sứ quân”. Các chính quyền địa phương tự tung tự tác không ai kiểm soát họ. Các chính quyền địa phương không những có quyền đầu tư bất cứ dự án nào họ thấy thích, họ có quyền ảnh hưởng, tác động đến cả luật pháp.

Đó là lý do mà nền kinh tế Việt Nam ngày nay được dẫn dắt bởi các doanh nghiệp FDI. Các doanh nghiệp tư nhân lớn trong nước đa phần là những thân nhân của các quan chức chính quyền. Giới mà tin rằng luật pháp đứng về phía họ, hoặc ít nhất là họ sẽ không bị thua thiệt trước luật pháp. Những người còn lại cho dù có tài sản họ cũng chỉ đầu tư nhỏ lẻ, cầm chừng, và luôn trong tình trạng “cố thủ”.

Liệu TPP có giúp?

TPP chắc chắn sẽ có tác động lên kinh tế Việt Nam, theo nghĩa những doanh nghiệp tư nhân của các đại gia sẽ có cơ hội thâm nhập sâu hơn vào nền kinh tế Mỹ. Đó cũng là cơ hội cho các doanh nghiệp FDI qua mở thêm các hãng xưởng giúp giảm bớt tình trạng thất nghiệp. Nhưng ở một nước mà chất lượng giáo dục quá thấp, các doanh nghiệp FDI mở hãng xưởng ở Việt Nam cũng chỉ để sản xuất các mặt hàng chất lượng thấp.

Cuối cùng thì ai được lợi? Đó là một số các đại gia doanh nghiệp, mà đa phần là thuộc về giới đại gia có liên kết với chính quyền, các doanh nghiệp FDI sang lợi dụng sức lao động rẻ, chất lượng thấp. Phần lợi cuối cùng vương vãi thuộc về tầng lớp lao động được có việc làm.

Nhưng người được lợi nhất là chính quyền. Bằng việc để người dân có thêm việc làm, chính quyến giải quyết được những bất mãn xã hội, giảm sự chống đối. Cho dù người dân có được tự do thành lập công đoàn thì với hệ thống một đảng chính quyền sẽ tiếp tục kiểm soát các công đoàn này bằng cách đe dọa hay khủng bố các lãnh đạo công đoàn một khi họ đi chệch hướng. Họ sẽ được quyền đình công đòi tăng lương, cải thiện bữa ăn, điều kiện lao động, nhưng nếu họ đòi cải cách chính trị thì sẽ được ăn “bánh canh”.

***

Do đó, chừng nào mà các chính sách và các thực thi chính sách của chính quyền từ trung ương đến địa phương chịu sự giám sát của người dân thì lúc đó chúng ta mới có hi vọng rằng các chính sách hiệu quả được thực hiện và vì đất nước.

Và chừng nào mà chính quyền thể hiện rõ quyết tâm và có đối trọng trong việc tôn trọng tài sản người dân thì chừng đó mới có hi vọng nhân dân ngày càng giàu mạnh, đất nước ngày càng thịnh vượng.

Các cải cách kinh tế do đó chưa đủ, mà phải là các cải cách về chính trị. Thiếu những cải cách chính trị nhanh chóng sẽ chỉ đưa nền kinh tế ngày càng sâu vào cơn khủng hoảng, và cuối cùng chính quyền phá sản.


Nguyễn Huy Vũ

Oslo, 31.7.2015

Miến Điện và Quá Trình Dân Chủ Hóa

Những ngày còn là sinh viên đại học ở Singapore, khoảng những năm 2004, khi đi làm thêm ở khách sạn, các bạn của tôi chủ yếu là người Miến Điện. Tò mò muốn xem thử dân Miến Điện nghĩ gì về Aung San Suu Kyi và tình hình dân chủ, tôi hỏi các bạn người Miến. Bạn e dè gọi Aung San Suu Kyi là Madam; khi hỏi bạn có dấn thân cho phong trào dân chủ không, bạn lắc đầu: họ có súng. Với rất nhiều người Miến Điện lúc bấy giờ, tình hình chẳng mấy khả quan, và dân chủ theo nghĩa được có tự do báo chí và tự do bầu chọn ra những người lãnh đạo bất kể đảng phái nhằm dẫn dắt đất nước là một điều gì đó xa vời.
Miến Điện. Nguồn: Internet.


Cuối năm 2007, cuộc biểu tình của các nhà sư bùng nổ, bắt nguồn từ việc chính phủ Miến Điện giảm trợ cấp xăng dầu. Chính quyền quân sự quyết định đàn áp cuộc biểu tình và bắt giữ những người cầm đầu. Cuộc biểu tình dẹp yên và Miến Điện lại trở nên yên bình. Những diễn biến cho thấy phe quân sự nắm giữ mọi phương tiện và dễ dàng xử lý phong trào dân chủ Miến Điện. Một lần nữa hẳn nhiều người sẽ thấy con đường dân chủ còn xa lắm.

Năm 2009, lúc tôi ở Thụy Điển, thông qua một người bạn quen một anh người Miến Điện, là con quan chức trong chính quyền và qua Thụy Điển học, tôi nghe được thông tin rằng anh sẽ về Miến Điện và sắp tới sẽ có cải cách lớn. Một thông tin thú vị nhưng khó tin vì mới cách đây không lâu chính quyền thẳng tay đàn áp biểu tình. Tôi nghe với mục đích lưu giữ thông tin.

Bốn năm sau, đến năm 2011 thì chính quyền quân sự Miến Điện hoãn dự án xây đập của Trung Quốc và mạnh dạn bắt đầu những cải cách chính trị.

Nối kết những sự kiện trên cho thấy rằng chính quyền Miến Điện lúc đầu thực chất không muốn cải cách, vì cải cách đồng nghĩa với quyền lực bị giảm đi. Họ cũng đã tìm đến Trung Quốc như một phao cứu sinh cho nền kinh tế khủng hoảng của mình, nhưng cuối cùng cảm thấy con bài Trung Quốc cũng không thể cứu vãn được, và do đó quyết định chọn lựa cải cách chính trị có kiểm soát. Giới cầm quyền quân nhân Miến Điện đã chơi một ván bài đặt nhiều cửa khác nhau. Vậy đâu là thách thức to lớn khiến giới  quân đội Miến Điện bắt buộc cải cách? Không gì hơn, đó là những thách thức và lợi ích về kinh tế, vì về quyền lực cách đây không lâu họ sẵn sàng và dễ dàng ra tay đàn áp các cuộc chống đối.

Sau khi độc lập khỏi Anh năm 1948, Miến Điện trở thành một nước dân chủ. Dưới sự dẫn dắt của thủ tướng U Nu theo mô hình phúc lợi xã hội chủ nghĩa, Miến Điện từ một nước thịnh vượng dưới sự bảo hộ của Anh bước vào một cuộc khủng hoảng kinh tế. Hàng hóa khan hiếm, ngân sách không đủ, chính phủ giải quyết khủng hoảng bằng cách in thêm tiền khiến lạm phát tăng và khủng hoảng thêm trầm trọng.

Khủng hoảng kinh tế kéo theo khủng hoảng chính trị. Tướng Ne Win đảo chính năm 1958 và thiết lập chế độ xã hội chủ nghĩa trên toàn Miến Điện kể từ đó. Dưới quyền tướng Ne Win, chính quyền quốc hữu hóa tất cả các doanh nghiệp và ngành công nghiệp, chỉ trừ nông nghiệp.

Đói khổ và vô vọng dẫn đến các cuộc biểu tình liên tiếp. Chính quyền phản ứng lại bằng cách đàn áp đẫm máu.

Năm 1962, sinh viên trường Rangoon biểu tình, bị đàn áp khiến 15 người chết. Gần mười năm sau, nhân đám tang U Thant -- cựu Tổng Thư Kí Liên Hiệp Quốc người Miến Điện -- năm 1975, biểu tình lại một lần nữa diễn ra và lại bị đàn áp. Các cuộc biểu tình sau đó lần lượt diễn ra trong các năm 1975, 1976, 1977 và đều bị dập tắt.

Tuy vậy, các cuộc biểu tình là một môi trường tốt đã rèn luyện và gắn bó những người dấn thân cho dân chủ của Miến Điện lại với nhau. Để rồi mười năm sau, năm 1988, phong trào phản kháng của sinh viên Rangoon một lần nữa lan ra toàn quốc và qui tụ mọi thành phần xã hội. Do bắt đầu từ ngày 8/8/1988, cuộc phản kháng được lấy tên gọi là 8888. Cuộc phản kháng kéo dài được chừng một tháng thì đảo chính quân sự xảy ra, chính quyền quân nhân thiết lập và như mọi lần ra tay dập tắt.  Cuộc phản kháng bị dập tắt nhưng một hệ quả to lớn của nó là sự hình thành một đảng chính trị, với các thành viên nòng cốt được tôi luyện từ các phong trào biểu tình trước đây: đảng Liên Đoàn Quốc Gia vì Dân Chủ (NLD) hình thành với Aung San Suu Kyi đóng vai trò một biểu tượng. 

Sự hình thành một tổ chức đối lập ở Miến Điện cùng với các áp lực quốc tế khiến giới cầm quyền Miến Điện lúc bấy giờ phải tìm một giải pháp thoát hiểm. Họ mạo hiểm tổ chức một cuộc tổng tuyển cử nhằm chọn ra các thành viên cho một ủy ban soạn thảo hiến pháp. Trong tổng số 492 ghế, đảng NLD của Aung San Suu Kyi chiếm 392 ghế. 392/492 hay 80% một tỉ số áp đảo thể hiện sự phẫn nộ của nhân dân với giới cầm quyền. Chính quyền quân nhân không công nhận kết quả bỏ phiếu và đặt NLD ra ngoài vòng pháp luật. Các lãnh tụ NLD tiếp tục bị bắt giam và Aung San Suu Kyi bị giam lỏng tại gia.

Đàn áp chính trị ở Miến Điện khiến chính phủ các nước phương Tây gia tăng cấm vận và nền kinh tế Miến Điện trở nên bi đát hơn. Hàng hóa khan hiếm cùng với quản lý kinh tế yếu kém khiến kinh tế ngày càng lún sâu vào khủng hoảng. Trong khoảng những năm 1990 đến 2007, mức lạm phát trung bình ở Miến Điện là 25%. Đi kèm với nó là thiếu hụt ngoại tệ. Tỉ giá hối đoái niêm yết chính thức của chính phủ thường thấp hơn mức giá chợ đen đến khoảng 200 lần.

Nghèo đói, vô vọng và các cuộc phản kháng không đủ để làm chùn bàn tay đàn áp của chính quyền quân nhân cho đến khi cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 2007-2009 diễn ra. Lúc bấy giờ giới quân nhân mới lựa chọn cửa thứ hai của ván bài: cải cách có kiếm soát, thay cho tiếp tục đàn áp.

Dù bị cấm vận và cô lập bởi các nước phương Tây, Miến Điện vẫn có những trao đổi và đầu tư từ một số nước châu Á như Trung Quốc, Singapore, Thái Lan, Ấn Độ và Hàn Quốc. Các công ty giao dịch của Miến Điện chủ yếu nằm trong tay các gia đình tướng lĩnh. Thu nhập của Miến Điện chủ yếu đến từ xuất khẩu gỗ, đá quý, du lịch và một phần đáng kể kiều hối. Cuộc khủng hoảng kinh tế sâu đậm 2007-2009 do đó không những làm cho các khoản thu của chính quyền suy giảm mạnh mà còn làm cho thu nhập của giới doanh nghiệp trong tay gia đình các tướng lĩnh trở nên điêu đứng. Và chỉ khi có sự đồng thuận của hội đồng tướng lĩnh, tướng Than Shwe và người kế nhiệm Thein Sein mới có thể nhanh chóng triển khai các cải cách một cách có kiểm soát một cách trôi chảy. Gọi là các cải cách có kiểm soát vì giới quân nhân vẫn còn nắm trong tay quân đội và tự cho mình quyền giữ 25% tổng số ghế trong quốc hội.

Dù cuộc cải cách dân chủ Miến Điện chưa trọn vẹn, những tiến triển trong quá trình dân chủ hóa Miến Điện đã đi những bước dài và khó có thể quay trở lại. Tuy vậy, vẫn còn rất lâu trước khi NLD và giới quân nhân tạo được sự tin tưởng chính trị với nhau. Chỉ khi NLD có thể trấn an giới cầm quyền quân nhân rằng quá khứ là quá khứ và hòa giải là con đường phía trước cho một quốc gia thì Miến Điện mới có thể tiến gần hơn đến một thể chế dân chủ đầy đủ. Mà một cuộc hòa giải có khi phải mất cả thế hệ.

Nếu có một bài học rút ra từ cuộc cải cách dân chủ ở Miến Điện thì đó hẳn là các cuộc phản kháng là môi trường gắn kết các cá nhân dấn thân cho đất nước. Cuộc gắn kết đó cuối cùng dẫn đến sự hình thành một tổ chức đối lập qui tụ đủ mọi thành phần. Và cuối cùng, đối diện với một chính quyền độc tài đang chơi bài nhiều cửa, đối lập áp lực và thuyết phục chính quyền rằng cải cách dân chủ hóa hòa bình là con đường thoát hiểm của giới cầm quyền và cũng là con đường đem lại lợi ích của dân tộc.

Nguyễn Huy Vũ


Minneapolis, 9/11/2015

Miến Điện và Trí Thức Việt Nam

Khi nhìn người dân Miến Điện cầm những lá phiếu tự do bầu chọn cho các đảng phái (dù hệ thống dân chủ vẫn chưa phải là đầy đủ), nhiều người Việt dâng lên một cảm xúc tự hỏi rằng khi nào thì chính những người Việt được như người Miến, cầm trên tay lá phiếu và cũng tự do bầu ra các lãnh đạo dẫn dắt đất nước mình.

Tiến trình chuyển tiếp dân chủ của Miến Điện diễn ra một cách yên bình, ít nhất là cho tới nay, đưa ra một minh chứng sống động rằng dân chủ không phải là một điều xa xỉ và cũng không nhất thiết đòi hỏi một dân trí rất cao hay một mức độ giàu có và phát triển mới cần và có được dân chủ. Vì dân chủ trước hết là sự tôn trọng phẩm giá của con người. Chính quyền tôn trọng dân và dân tôn trọng bầu chọn nên chính quyền.

Miến Điện Nguồn: Internet.

Một câu hỏi luôn đặt ra là tại sao đã 40 năm kể từ ngày đảng Cộng Sản kiểm soát toàn bộ đất nước, người Việt không hề có được một tổ chức chính trị đáng kể nào khác ngoài đảng Cộng Sản đủ uy tín và tầm vóc để người Việt có thêm một lựa chọn?

Có vài nguyên nhân. Những cuộc cải cách thường được dẫn dắt bởi các trí thức. Cuộc chuyển đổi ở Miến Điện cũng không ngoại lệ, nó bắt nguồn từ các phong trào sinh viên; Aung San Suu Kyi lúc đầu chỉ là một biểu tượng. Nhưng trí thức Việt hiện nay làm gì và ở đâu? Nhìn quanh, bạn và tôi sẽ thấy rằng những trí thức tiếng tăm nhiều người không muốn làm chính trị, không thể hiện một chính kiến rõ rệt và dường như đã bỏ mặc đất nước nổi trôi. Có thể rằng vì những nguyên nhân khác nhau, một trí thức chọn không làm chính trị, nhưng ít nhất cũng phải chọn cho mình một chính kiến và một cách tự nhiên đứng về phía những người dân bị đàn áp. Nhưng thất vọng nhất có lẽ là những trí thức thành công, đã trải nghiệm ở các nước dân chủ, lại lớn tiếng cho rằng đất nước không cần những cải cách chính trị theo hướng dân chủ. Trí thức Việt Nam lo cho bản thân và gia đình nhiều hơn là lo cho xã hội, ít nhất là so với Miến Điện. Trong bản xếp hạng mức bố thí quốc gia, World Giving Index, đứng đầu là Miến Điện, Việt Nam không nằm trong top 20 (xem hình dưới). Có lẽ đặc tính của trí thức Việt chịu nhiều ảnh hưởng bởi văn hóa Khổng Nho, lo thành danh cho chính bản thân mình, khác với văn hóa Miến Điện chịu ảnh hưởng nhiều bởi văn hóa Ấn Độ dấn thân, bố thí nhiều hơn cho xã hội.

Một nguyên nhân thứ hai là do lịch sử. Cuộc chia ly Bắc Nam 1954 đã đưa đa số những trí thức chống đối chủ nghĩa cộng sản vào miền Nam. Kế tiếp, sự sụp đổ của miền Nam đã đưa phần lớn thế hệ trí thức dấn thân không cộng sản ra nước ngoài bằng cách này hay cách khác.
Kể từ đó trí thức Việt Nam đa số chỉ còn lại là trí thức được đào tạo từ các nước Xã Hội Chủ Nghĩa. Những trí thức này phần vì không có cơ hội tiếp cận với thế giới dân chủ với các khái niệm về dân chủ nhân quyền, phần vì có người thân trong chính quyền, hoặc được cất nhắc những vị trí trong chính quyền, nên, ngoại trừ một thiểu số, phần đông không hề dấn thân đòi hỏi những cải cách chính trị.

Vậy liệu rằng có một tương lai nào cho Việt Nam? Những quan sát trong các hệ thống chính trị hiện đại cho thấy một qui luật 50 năm. Những thay đổi chính trị mạnh mẽ nhất thường xảy ra trong khoảng thời gian này. 50 năm là quãng thời gian để thế hệ thứ 3 trưởng thành. Qui luật này đúng ở những cuộc chuyển đổi dân chủ ở các nước Đông Âu, ở Đài Loan, Ấn Độ, và giờ đến Miến Điện. Nếu như những phản kháng của thế hệ đầu bị dập tắt nhường đường cho một chế độ mới, thì thế hệ thứ 2 và sự nhập cuộc của thế hệ 3 là những hạt nhân cho những phong trào đòi thay đổi. Quan sát những diễn biến ở Việt Nam gần đây cho thấy một sự nhập cuộc ngày càng đông đảo những người trẻ đòi hỏi những thay đổi cho đất nước. Sự thay đổi do đó sẽ diễn ra khi đám đông những người trẻ dám cất tiếng nói đủ lớn, và 10 năm tới là khoảng thời gian của hi vọng.


Nguyễn Huy Vũ

Minneapolis, 11/11/2015



Nguồn: CAF World Giving Index 2015, Charities Aid Foundation: https://www.cafonline.org/about-us/publications/2015-publications/world-giving-index-2015


Việt Nam có nên phá giá tiền Đồng?

Đứng trước việc Trung Quốc phá giá đồng nhân dân tệ trong ba ngày thứ ba (11/8), tư (12/8), và năm (13/8) tuần rồi, một số chuyên gia kinh tế Việt Nam cho rằng Việt Nam nên ngay lập tức phá giá đồng Việt Nam, và thậm chí phá giá đến 10%.

Lý do thứ nhất đưa ra là tiền đồng Việt Nam (VND), do neo giữ với đồng đo la Mỹ (USD), lên giá và hàng Việt Nam sẽ kém cạnh tranh, phá giá tiền đồng với biên độ cao hơn của Trung Quốc sẽ giúp hàng Việt Nam rẻ hơn, cạnh tranh hơn. Một lý do thứ hai là do nhân dân kì vọng chính phủ sớm muộn gì cũng sẽ phá giá nên họ lo sợ giữ đô la, và phá giá Việt Nam Đồng nhanh chóng sẽ giải tỏa được kì vọng này, giảm tình trạng đô la hóa trong dân. [1]

Tiền Việt Nam. Nguồn: Internet.

Tôi cho rằng, ngược lại, sẽ là một quyết định sai lầm nếu chính phủ phá giá Việt Nam Đồng, với các lí do như sau.

Việc phá giá Việt Nam Đồng sẽ chỉ có tác dụng giúp hàng Việt Nam rẻ hơn trong ngắn hạn, vài tháng đến một năm, do tỉ giá hối đoái được lợi hơn. Nhưng một tác động to lớn hơn là nó sẽ gia tăng lạm phát nhanh chóng, việc gia tăng lạm phát sẽ gây sức ép lên mức lương bổng của công nhân, các công nhân tiếp theo sẽ đòi hỏi các chủ doanh nghiệp tăng lương, sau khi tăng lương xong thì chi phí sản xuất thực của hàng hóa Việt Nam sẽ trở về vị trí ban đầu.

Do vậy, việc phá giá Việt Nam Đồng nhằm giúp hàng Việt Nam rẻ hơn chỉ có tác dụng ngắn hạn, và thậm chí không có tác dụng vì các đơn hàng của các doanh nghiệp được kí kết từ rất lâu trước đó. Thêm nữa, không phải dễ gì một nhà phân phối ngay lập tức chọn nhảy qua một nhà sản xuất chỉ vì hàng hóa của họ giảm được giá thành 10% chẳng hạn trong ngắn hạn. Sự vướng mắc còn nằm ở nhiều khâu như phân phối, qui trình vận chuyển, chất lượng sản phẩm, v.v., và việc chỉ thay đổi nhà cung cấp chưa chắc làm giá thành thay đổi một cách nhanh chóng.

Việc phá giá Việt Nam Đồng có ít điều lợi, ngược lại nó đưa ra nhiều tác hại.

Thứ nhất, lạm phát tăng cao sau khi phá giá tiền đồng nó khiến cho đời sống của người dân cơ cực hơn, nhất là những đối tượng mà mức thu nhập của họ khó được điều chỉnh như những người nhận lương hưu hay nhân viên cấp thấp.

Thứ hai, việc phá giá khiến thị trường bất ổn hơn. Người dân từ giờ trở đi mặc nhiên sẽ kì vọng rằng mỗi khi Trung Quốc phá giá thì Việt Nam trước sau gì cũng sẽ phá giá. Vai trò của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam (NHNN) do đó sẽ mất dần đi tính độc lập. Và thực ra, vì nhân dân đã mất niềm tin vào NHNN nên mới có hiện tượng găm giữ đô la hiện nay, vì họ kì vọng NHNN trước sau gì cũng phá giá. Nếu NHNN hiện nay lại lập tức phá giá thì nó chỉ chứng tỏ một điều rằng người dân kì vọng đúng, và họ có quyền kì vọng lần sau nữa Ngân Hàng Trung Ương (NHTW) Trung Quốc phá giá, họ lại tiếp tục neo giữ đồng đô la, làm áp lực phá giá mạnh hơn. Như vậy, vô hình chung, nền kinh tế Việt Nam bị đưa vào vòng xoáy phá giá và trực tiếp chịu sự ảnh hưởng của các chính sách của NHTW Trung Quốc. Đó quả thực là một điều nguy hiểm. Nguy hiểm vì tự mình đưa cổ vào tròng của Trung Quốc, tự đưa cách quản lý nền kinh tế nước mình phụ thuộc vào chính sách của Trung Quốc, trong khi một chính sách khôn ngoan phải là tách từ từ ra.

Thứ ba, việc ngay lập tức phá giá nó chứng tỏ một chính sách điều hành kinh tế tiền tệ thiếu nhất quán và không có định hướng. NHNN phải là cơ quan định hướng chính sách tiền tệ và ổn định thị trường tài chính, có như vậy thì doanh nghiệp họ mới yên tâm làm ăn và tích lũy tiền địa phương, từ đó mà tiền đồng của Việt Nam mới mạnh mẽ. Khi tiền đồng mạnh mẽ thì có lợi cho nền kinh tế, có lợi cho người dân chi tiêu, mua sắm; khi dân có tiền chi tiêu, mua sắm, để dành thì thị trường quốc nội mạnh lên, doanh nghiệp sẽ mở ra hoặc vào Việt Nam mà đáp ứng cái thị trường mua sắm đó. Ngược lại, khi NHNN điều hành chính sách thiếu định hướng, ba giựt ba chộp, nay nắng mai mưa, không có thông tin rõ ràng cho giới doanh nhân về định hướng chính sách, về lâu dài vài năm, hay ngắn hạn (ít nhất vài ba tháng tới) thì doanh nghiệp chỉ còn đoán mò để lên kế hoạch sản xuất kinh doanh, và do lo sợ những thay đổi bất lợi cho họ như phá giá tiền đồng mà họ găm giữ đô la hay vàng. Việc găm giữ đô la hay vàng làm bất lợi cho nền kinh tế vì NHNN thiếu đô la cho doanh nghiệp cần vay và làm nguồn vốn dự trữ phòng khi có xáo trộn thị trường tài chính, và cũng để bảo vệ giá trị tiền đồng. Doanh nghiệp mà găm giữ đô la thì cũng không còn vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh, không thu dụng thêm lao động, thất nghiệp do đó không giảm và sức tiêu thụ không tăng do dân không có tiền, nền kinh tế không phát triển được.

Từ bốn ý trên rõ ràng hại nhiều hơn lợi, cho nên tôi nghĩ một chính sách đúng là không phá giá tiền đồng.

Nhưng câu hỏi tiếp theo là nếu mà không phá giá tiền đồng thì NHNN Việt Nam nên làm thế nào để đối phó với sự phá giá của đồng nhân dân tệ và những dao động bất ngờ trên thị trường hối đoái?

Thứ nhất, về lâu về dài muốn hàng Việt Nam trở nên cạnh tranh hơn thì nhà nước cần tập trung nâng cao năng suất lao động của người lao động. Có như vậy thì hàng Việt Nam được làm ra hoặc sẽ rẻ hơn do năng suất cao hơn, hoặc sẽ đẹp hơn, chất lượng cao hơn dù giá thành có thể bằng hoặc cao hơn chút. Tôi nghĩ bên cạnh một nước Trung Quốc do có thị trường lớn, hàng của họ sản xuất theo nền kinh tế số nhiều nên giá thành thấp, Việt Nam nên chọn cạnh tranh ở phân khúc thị trường giá cao hơn và chất lượng cao hơn, mẫu mã đẹp hơn, phân khúc đó cho nhiều lợi nhuận hơn và đòi hỏi chất xám nhiều hơn. Do đó, cần thiết phải thực hiện cải cách ngay lập tức hệ thống giáo dục, đào tạo nghề, và có các chính sách nhằm khuyến khích các doanh nghiệp công nghệ cao của nước ngoài vào hợp tác. Chính phủ có thể tham khảo chính sách Yozma của Israel khi lôi kéo các doanh nghiệp nước ngoài và xây dựng thành công thị trường đầu tư mạo hiểm nhằm vực dậy nền công nghiệp kỹ thuật cao của mình. Chính sách Yozma của Israel sau đó được Canada, Ireland, và Singapore bắt chước, và họ cũng rất thành công.

Thứ hai, về ngắn hạn, NHNN Việt Nam nên thả lỏng đồng Việt Nam trong giới hạn và xem xét điều chỉnh định kì cố định, chẳng hạn mỗi 3 tháng một lần. Ví dụ cho phép tỉ giá hối đoái VND với USD dao động trong một biên, chẳng hạn, +/- 3%, và giữ nguyên trong ít nhất 3 tháng, cứ mỗi sau 3 tháng sẽ xem xét lại một lần. NHNN phải giữ uy tín bằng cách duy trì thực hiện chính sách như vậy. Mỗi khi có một thay đổi về chính sách tỉ giá ngoại hối, NHNN phải thông báo trước một khoảng thời gian. Tốt nhất là cứ mỗi 1 tháng NHNN nên có một thông cáo về các chính sách trên trang web của mình. Như vậy, doanh nghiệp sẽ dự đoán biết rằng các chính sách sẽ diễn tiến như thế nào để họ biết cách lập các kế hoạch chi tiêu và sản xuất. Họ cũng biết rằng trong trường hợp xấu nhất chẳng hạn ở trên, tỉ giá hối đoái sẽ phải giảm mất khoảng 12% để họ có những dự phòng rủi ro. Khi doanh nghiệp đã có kế hoạch sản xuất kinh doanh, và NHNN tạo niềm tin cho doanh nghiệp thì nền kinh tế sẽ nhanh chóng đi vào ổn định, và việc điều hành thị trường tài chính tiền tệ của NHNN cũng sẽ dễ dàng được thực hiện. Bên cạnh đó, do thị trường được phép điều chỉnh hối đoái trong biên độ, nó vừa cho phép giảm áp lực lên việc điều chỉnh tỉ giá, vừa giúp thị trường tài chính duy trì được uy tín và sự ổn định. Khi hệ thống tài chính ổn định và người dân tin vào chính sách của NHNN thì họ sẽ thay vì giữ đô la sẽ đổi ra tiền đồng để kinh doanh, dự trữ ngoại hối do đó sẽ tăng lên. 

Để điều hành một hệ thống tài chính tiền tệ hiệu quả, NHNN phải cứng rắn tạo ra một uy tín trong việc thực thi các chính sách của mình đối với giới doanh nghiệp. Nếu NHNN không ngay lập tức tạo ra uy tín cho mình bây giờ thì còn đợi tới lúc nào?

Nguyễn Huy Vũ



Oslo, 16.8.2015

[1]http://cafef.vn/tai-chinh-ngan-hang/giu-on-dinh-ty-gia-chi-nen-mang-tinh-chat-tam-thoi-20150601173425116.chn



Xuân hạ thu đông

Xuân hạ thu đông, bốn mùa. Hồi còn nhỏ, như bao đứa trẻ khác, tôi được học rằng, mùa xuân gió mát nhè nhẹ, nắng vàng, hoa nở;  mùa hè nắng chói chang; mùa thu của lá vàng vương vấn những con đường, góc phố, của những lãng mạn tình yêu, những ánh vàng đâu đó cuối cung đường; mùa đông lạnh lẽo với tuyết trắng phủ kín những ngôi nhà, góc phố, những ngọn thông mặc áo tuyết, mùa của những chú gấu ngủ đông, chim di cư tránh rét, của Giáng sinh với nến và hoa. Tôi đã từng biết vậy và hẳn nhiên tin vậy vì tôi chưa từng trải qua những cung bậc của cảm xúc với mùa màng, cho tới những năm tôi 25 tuổi.

Stockholm, Thụy Điển, đường nối khu kí túc xá Lappis và Đại học Stockholm

Hồi mới rời Việt Nam tôi chỉ có một ý niệm duy nhất trong đầu là đi ra ngoài xem thế giới bên ngoài nó như thế nào. Những ý nghĩ tò mò về thế giới bên ngoài đã hối thúc tôi đi kiếm tìm những học bổng để ra ngoài du học; cũng những tò mò đó đã ngày càng ăn sâu khiến tôi sau đó không dừng lại ở Singapore để xin sang châu Âu học hỏi nền văn minh phương Tây và văn hóa của họ. Phải thú thật tôi chưa bao giờ có ý định ở lại nước ngoài để định cư và đó là lý do mà thay vì kiếm một công ty nào đó để làm và định cư lại, tôi xin đi học lòng vòng. Cái tính tò mò đã dẫn dắt tôi đến với châu Âu và cảm nhận được bốn mùa của xứ họ.

Tôi sang Stockholm vào những ngày của mùa thu tháng 8. Nắng vẫn còn ấm và lá chưa vàng. Châu Âu thật hiền hòa và dễ mến. Sống ở Singapore đã lâu, phương tiện công cộng, cách thầy cô giáo dạy, cách học, cách thi, hay giao tiếp tiếng Anh đối với tôi không có nhiều khác biệt. Khác biệt chính không phải ở những công trình xây dựng, những lâu đài hay những góc phố, mà ở những người dân rất đỗi bình thường: đó là nụ cười tươi của những cô gái mà một kẻ thích lang thang lãng tử như tôi thỉnh thoảng bắt gặp. Nó có thể là lúc vô tình nhìn nhau, lúc hỏi đường, lúc tình cờ cùng ngồi trên bus, hay lúc mua hàng. Có lần khi ở Thụy Điển sang Oslo chơi, ghé quán mua đồ, em bán hàng thấy tôi dùng card Swedbank của Thụy Điển thì mừng như gặp đồng hương tươi cười bắt chuyện. Bạn sẽ hiếm thấy điều đó khi đi dần xuống phía Nam của châu Âu và càng ít hơn ở những chỗ khác, những nơi tôi đi qua. Bạn đọc khó tính sẽ nghĩ té ra ông này sang châu Âu gọi là để học hỏi tìm hiểu văn hóa mà toàn gặp mấy cô gái xinh xắn nên khen đây. Nhưng không đâu bạn ơi, văn hóa là gì nếu chẳng phải là con người. Những công trình cũng chỉ là kết quả từ sự lao động của con người. Hiểu được văn hóa của họ, cách suy nghĩ của họ và để từ đó hiểu được vì sao họ kiến tạo nên được một nền văn minh tiến bộ mà những người châu Á chúng ta ngày nay vẫn còn theo học.

Bắc Âu nằm ở phía trên tận cùng của châu Âu khiến nhiều bạn nghĩ rằng Bắc Âu rất lạnh. Nhưng nhiệt độ duy nhất không làm bạn cảm nhận được rằng lạnh ít hay nhiều, mà nó còn cộng thêm với độ ẩm và gió. Bắc Âu nhiệt độ thấp hơn, nhưng nhờ có dòng hải lưu ấm cộng thêm khí hậu khô, ít gió, và độ ẩm thấp nên nếu cùng một nhiệt độ so với các nước Nam Âu, bạn thường cảm nhận rằng Bắc Âu sẽ ấm hơn. Ở Đức, Pháp nếu 10 độ C bạn ra đường phải mặc áo khoác, bên Bắc Âu bạn chỉ cần mặc áo phông khi ra ngoài, thậm chí có thể như tôi ngồi nhà mở cửa sổ ở trần uống bia.

Cái khác là mùa đông của các nước Bắc Âu rất dài và mùa hè cũng vậy. Mùa đông Bắc Âu bắt đầu vào khoảng cuối tháng 10 và kéo dài tận giữa tháng 3. Vào mùa đông trời tối lúc 2h chiều và sáng lúc 9h sáng. Ngược lại vào mùa hè, mặt trời sáng bừng từ lúc 2h sáng và tối lúc 11h đêm. Mùa hè bạn không làm gì được nhiều, ngoại trừ việc đi chơi, hoặc có làm thì chiều chiều cũng đi tắm nắng, nướng thịt uống bia tán dóc với bạn bè, đơn giản vì mùa hè rất đẹp.

Những ngày ở Stockholm, mấy người bạn châu Âu chung dãy kí túc xá hay phàn nàn nắng mùa hè chiếu sáng quá, không ngủ được. Mới hơn 2h là nắng sáng gắt hắt qua cửa sổ xuyên vào phòng, các bạn phải kiếm thêm những chiếc rèm kín chèn cửa sổ lại. Khu kí túc xá tôi ở nằm bên khu bảo tồn của Stockholm. Chim chóc, hươu nai và thỏ rất nhiều. Mùa hè chim hót ríu rít suốt ngày cho đến khi mặt trời lặn lúc 11h đêm, 2h sáng thì chim hót trở lại như đánh thức một ngày mới.

Những kẻ chiêm nghiệm tình yêu hay ví bốn mùa xuân hạ thu đông như bốn típ người phụ nữ đặc trưng. Người phụ nữ của mùa xuân dịu dàng e ấp, tươi tắn như hoa; của mùa hè nồng nhiệt, cuồng cháy; của mùa thu lãng mạn và êm đềm; của mùa đông lạnh lẽo và chịu đựng. Kẻ tham lam ước gì mình có được một cô có được bốn tính cách, người khiêm tốn ước chỉ cần có được một cô của mùa đông, chịu đựng cùng mình trải qua những thăng trầm, lạnh lẽo.

Phải trải qua những mùa đông bạn mới cảm thấy những ấm áp và nồng nhiệt của mùa hè. Hồi mới sang, tôi tò mò hay hỏi những người bạn Bắc Âu của mình tháng nào là tháng sinh nhật phổ biến nhất của tụi mày. Tụi hắn cười đáp tụi tao sinh nhật chủ yếu vào mùa xuân, vì mùa hè là mùa của yêu đương. Trải qua những ngày đông âm u, đen tối, bạn có cảm giác như một người đang mò mẫm đi trong những đường hầm tối và lạnh mong đợi thấy được ánh sáng cuối con hầm. Bạn bước vào đường hầm với một sự sẵn sàng, càng đi sâu vào trong, những chịu đựng của bạn giảm xuống, đôi khi hoang mang, đôi khi chán nản mặc dù bạn biết là đường hầm đó sẽ dẫn dắt bạn đến một lối ra, nhưng bạn không khỏi ước thầm rằng phải chi ta thấy được một chút ấm áp và ánh sáng lúc này và ta bước xuống đi tiếp cũng được. Cứ như thế bạn tiếp bước như một qui trình đã được lập sẵn; bạn không vui, cũng không buồn, bạn cố tìm điều gì đó để làm giúp nó quên đi bóng đêm và cái lạnh. Và cho đến khi bạn dần chấp nhận bóng đêm và cái lạnh như một sự hiển nhiên thì ánh sáng, những cơn gió man mác và hơi ấm bắt đầu miên man da thịt bạn. Mùa xuân đã đến.

Nguyễn Huy Vũ

Oslo, 9.3.2014