15.2.14

Chuyện thi cử VN và Nauy

Vẫn biết nhiều khi so sánh giữa một nước phát triển và một nước đang phát triển, như ở nhà, là một sự khập khiễng. Nhưng những so sánh cứ  tự nhiên trở về khi mình có dịp tiếp xúc và làm việc với người ở các nước ngoài này.

Nghe bạn kể vanh vách từng tên ông thầy ăn tiền sinh viên, mình ngồi nghe mà tròn mắt. Có thầy dạy xong bảo lớp trưởng lên nói chuyện, lớp trưởng lên hỏi chuyện gì, thầy bảo đứa nào muốn đậu đóng 1 triệu, đứa nào không đóng không đậu. Lớp trưởng về báo cáo lại, một số bạn nộp tiền cho lớp trưởng, gửi thầy, các bạn đó đậu, các bạn còn lại rớt. Có thầy sau khi dạy xong, bảo sinh viên muốn biết điểm nhắn tin điện thoại cho thầy, sinh viên nhắn tin để nhận lại giá tiền muốn đậu phải nộp. Cái danh sách cứ dài ra, mà có phải thầy ở trường hạng hai, hạng ba đâu, đằng này toàn các thầy thuộc trường hàng đầu ở Sài Gòn. Ngày xưa, đứa em kể đi học mấy đứa nào dẫn thầy đi nhậu, đứa đó đậu, những đứa không có tiền dẫn thầy đi nhậu hoặc đưa tiền cho thầy, rớt. Lúc đầu mình không tin, giờ càng ngày càng hiểu. Bạn bảo thêm, các thầy đi dạy rất giàu, mặc dù mình thấy đi dạy mỗi tiết (45 phút), chỉ có 90 ngàn.  Ông thầy như vua, vừa dạy vừa chấm điểm cho sinh viên, muốn cho đứa nào điểm cao thì cho, muốn cho rớt thì rớt.

Còn giáo dục Nauy.  Chuyện thi cử của họ rất nghiêm túc. Khi làm bài thi, mỗi sinh viên được phát cho một xấp giấy làm bài thi. Mỗi tờ giấy làm bài thi bao gồm 3 tờ giấy mỏng dính chồng lên nhau. Tờ trên cùng màu trắng dùng để viết trực tiếp lên, tờ thứ hai nằm giữa màu vàng, và tờ cuối cùng màu trắng nhạt, hai tờ giữa và cuối là kiểu giấy in. Khi sinh viên viết bài lên tờ giấy đầu, hai tờ giấy nằm dưới cũng tự động lưu lại những gì sinh viên viết. Cuối buổi thi hai tờ trên cùng gửi cho giám khảo gửi để chấm bài, tờ dưới cùng sinh viên giữ lại, để có gì sau này đối chiếu. Hai tờ kết quả của sinh viên sau đó sẽ được gửi cho hai giám khảo chấm bài. Tờ đầu (mà sinh viên viết trực tiếp lên) được gửi cho một giám khảo phụ thuộc trường khác dùng để chấm điểm cho sinh viên. Tờ thứ hai được gửi cho một giám khảo chính (thường là giáo sư của môn dạy hay trợ giảng) để chấm bài. Sau khi hai giám khảo chính và phụ chấm xong, hai người sẽ so sánh điểm của nhau và thảo luận nếu điểm của cùng một sinh viên mà hai người chấm khác nhau. Và điểm cuối cùng thì hai giám khảo sẽ phải kí và gửi cho ban quản lý. Bằng cách để cho sinh viên nắm một bản bài thi giúp cho các giám khảo không thể nào sửa bài sinh viên. Việc để cho giám khảo chính nắm bản thứ 2, thay vì bản thứ 1, vì bản thứ 2 là bản giấy in, nên giám khảo chính không thể sửa bài của sinh viên nếu cho dù trong quá trình dạy có tình cảm với sinh viên đi chăng nữa. Khi hai giám khảo cùng chấm bài và so sánh, mà một giám khảo nằm ở trường khác,  thì khả năng giám khảo chính chấm thiên vị cho sinh viên cũng không còn. Khi có một vị giám khảo nằm ở trường ngoài chấm điểm thì họ sẽ biết ông thầy trường chính đang dạy những gì và có đàng hoàng tử tế hay không. Ông thầy trường chính do đó cũng phải dạy và thi cho nó đàng hoàng tử tế. 

Người phương Tây rất thực tế, họ thiết kế một cơ chế để giảm thiểu tiêu cực, chứ không kêu gọi suông kiểu "nói không với tiêu cực" hay mong chờ lòng tự trọng (vốn đã không còn ở các ông thầy nhận tiền sinh viên để cho điểm). 

Oslo, 30.9. 2013

Bảo Mật Điện Tử

Thấy các bạn ở VN mất tiền qua Internet banking, cảm thấy nhiều bạn chưa biết nhiều về bảo mật điện tử (digital security) của hệ thống tài chính, mình viết vài dòng chia sẻ.

Số là trước khi bỏ nghề kỹ sư để theo đuổi ước mở trở thành kinh tế gia (không biết có thành công không, nhưng biết là đang theo đuổi ước mơ), trong thời gian làm việc ở Singapore gần 1 năm rưỡi, mình là kỹ sư chính phụ trách việc làm card ngân hàng cho tất cả các khách hàng châu Á (trừ Việt Nam) của Gemalto – công ty về card hàng đầu thế giới và là công ty phụ trách làm passport điện tử cho chính phủ Mỹ. Phụ trách việc làm credit card cho các ngân hàng từ Citibank, HSBC, Standard Chartered Bank,  Maybank ở Singapore, và một số ngân hàng ở Hàn Quốc, Nhật, Indonesia, Cambodia, Malaysia, Ấn Độ và Trung Quốc, đặc biệt mình thiết kế bảo mật cho thẻ cá nhân của nhân viên Hãng Truyền Hình Trung Quốc, trừ Việt Nam. Không hiểu sao sếp không giao cho mình dự án ở các ngân hàng Việt Nam, mà thay vào đó là một đồng nghiệp người Singapore.

Trước đây, thẻ tín dụng (credit card) không có chip, chỉ có vạch từ. Thẻ này không an toàn. Một dạo trước đây, có chuyện các băng đảng mafia người Malaysia qua Việt Nam đánh cắp thông tin thẻ từ, rất dễ, và họ làm giả y chang các thông tin và trộm tiền bằng cách mua hàng. Với thẻ không có chip, hoặc chip có hệ thống bảo mật không đúng chuẩn, rất dễ bị ăn cắp thông tin. Họ chỉ cần dùng một cái máy đọc thẻ (card reader), quẹt qua một cái, các thông tin sẽ lưu lại trong máy, sau đó họ tải ra máy tính, và tải ngược lại thông tin lên một cái thẻ giả mới, và họ được một thẻ giả có tính năng y như thật, dùng để ăn cắp tiền.

Hiện nay, thế giới đã tiến một bước xa đến hệ thống bảo mật mới cho thẻ tín dụng. Chuẩn bảo mật mới này gọi là EMV, viết tắt của ba chữ đầu Europay-MasterCard-Visa, ba công ty lớn chuyên về thẻ tín dụng. Các công ty này không trực tiếp làm thẻ, mà họ bán quy trình bảo mật và đứng ra kiểm soát bảo mật hệ thống, từ khâu làm thẻ đến khâu bảo mật.

Vậy chuẩn bảo mật này như thế nào. Hệ thống bảo mật này thường có 3 (tầng) bảo mật, với ba lớp khóa khác nhau. Ví dụ một thẻ Visa. Lớp khóa thứ nhất là của Visa, khóa này đảm bảo rằng khi các máy đọc thẻ đọc vào thẻ tín dụng thì máy sẽ kiểm tra được có phải thẻ Visa hay của hãng nào khác, như MasterCard, American Express hay JCB, etc. Lớp khóa thứ hai, là khóa của ngân hàng, khóa này đảm bảo rằng khi máy đọc thẻ đọc vào thẻ sẽ phát hiện được thẻ thuộc ngân hàng nào. Lớp khóa thứ ba, là lớp khóa cá nhân, bao gồm số pin của thẻ, số CVC, OTP (one-time password, mật mã một lần). Đối với mật mã khóa của ngân hàng, qui trình bảo mật bao gồm 3 người nắm giữ 3 phần khác nhau của khóa. Khóa chỉ thực hiện khi từng người một nhập mã của mình vào máy và sau đó, máy sẽ thực hiện thuật toán, kết hợp 3 phần lại với nhau để trở thành mật mã của ngân hàng. Các khóa này được tải vào chip của thẻ, lần lượt tùy từng công đoạn.

Khi đưa thẻ tín dụng thanh toán, đầu tiên máy đọc thẻ sẽ gửi một tín hiệu tới chip. Chip sẽ phải thực hiện thuật toán với tín hiệu và gửi trả lại máy tín hiệu mới. Máy sẽ phân tích xem là các thông tin từ chip cho thấy thẻ tín dụng là thẻ thật hay thẻ giả dựa vào các thông số mật mã khóa. Bước thứ hai, chip sẽ gửi tiếp một tín hiệu khác tới máy đọc thẻ và máy đọc thẻ xử lý tín hiệu và gửi lại thông số cho thẻ; thẻ nhận tín hiệu và xử lý để kiểm tra xem máy đọc thẻ là máy thật hay máy giả. Chỉ cần một trong hai quy trình trên không được thực hiện trôi chảy là giao dịch chấm dứt.
Nhiều bạn lo ngại khi đi ăn mình đưa thẻ cho nhân viên nhà hàng, họ cầm thẻ của mình đi quẹt, rồi ra bắt mình ký tên vào hóa đơn. Nhỡ may họ biết được số của thẻ, 16 chữ số và 3 số CVC, họ có thể lên mạng mua đồ. Thực ra, giờ đây, đối với các ngân hàng bảo mật, họ bắt buộc có một bước bảo mật mới khi trả tiền online là xác nhận online (online verification) để xem có phải chính bạn là người mua hàng: đòi hỏi bạn phải có một cái token để tạo ra một loại mật mã một lần (OTP, one-time password), có trường hợp ngân hàng còn đòi thêm số PIN cá nhân nữa. Rất bảo mật vì nhân viên cửa hàng không thể nào có 2 số mật mã.

Trong một số trường hợp mua hàng, mình có thể gọi điện thoại và đọc 16 số của thẻ tín dụng cho nhân viên, nhân viên giúp mình mua hàng. Trường hợp này cũng rất bảo mật, vì khi nhận 16 số của thẻ, nhân viên sẽ hỏi bạn thêm ngày tháng năm sinh, đây là thông tin mà nhân viên cửa hàng khó mà biết được, và nếu thông tin không chính xác thì giao dịch không thực hiện. Khi mua vé máy bay chẳng hạn, họ còn bắt buộc bạn mang theo passport và thẻ tín dụng dùng để mua đi kèm để kiểm tra.

Một số ngân hàng bảo mật hơn, họ còn có dịch vụ gửi tin nhắn cho bạn thông báo số tiền bạn mua hàng hay chuyển khoản, nếu số tiền đó lớn hơn một mức nào đó. Giúp bạn kiểm tra các giao dịch của mình.
Khi các cửa hàng nhận thẻ tín dụng, họ bắt bạn đưa chứng minh thư để kiểm tra thêm chữ ký của bạn và nhân thân. Cho nên trường hợp một người ăn cắp được thẻ của bạn, hoặc bạn lỡ đánh rơi thẻ, thì cũng khó có khả năng họ dùng thẻ của bạn đi mua được hàng, nếu nhân viên của hàng đó cẩn thận thực hiện đúng quy trình kiểm tra tên và so sánh chữ ký. Dĩ nhiên, tốt hơn, bạn nên báo ngân hàng ngay khi mất thẻ.

Ở Nauy, chính phủ điện tử, họ còn dùng thêm hai mã số nữa là BankID và số cá nhân cho online banking. Hai mật mã này vừa để nhập vào online banking và cũng để thực hiện việc giao dịch online bên cạnh mật mã một lần OTP. Ngoài ra, hai số BankID và số cá nhân còn được chia sẽ với chính phủ Nauy để bạn dùng để nhập vào hệ thống chính phủ điện tử để khai báo địa chỉ mới, làm giấy khai sinh cho con và tất cả các thủ tục liên quan đến chính quyền khác.

Chính vì vậy, nếu các ngân hàng thực hiện bảo mật đúng cách thì bạn không việc gì phải lo nghĩ nhiều.

Oslo, 18.7.2013

Lừa đảo tài chính

Đầu thế kỷ 20, một người Ý tên Charles Ponzi lên thuyền sang nước Mỹ, với vỏn vẹn chưa tới 3 đô la Mỹ trong túi, để thực hiện giấc mơ Mỹ. Và quả thật giấc mơ của ông thành công sau 20 năm; từ chỗ chỉ có chưa tới 3 đô la kể từ lúc đặt chân đến Mỹ, chỉ sau một khoảng thời gian ngắn, ông có trong túi hàng triệu đô la Mỹ.  Bằng cách lúc đầu buôn bán ăn chênh lệch trên thị trường tem; sau đó chuyển sang hình thức kêu khách hàng góp vốn và hứa hẹn một lãi suất cao bất ngờ trong một thời gian ngắn, sau đó lấy tiền của khách hàng sau trả tiền cho khách hàng trước và phần còn lại để mình tiêu xài. Vòng xoáy sẽ tiếp tục cho đến một ngày những nhà đầu tư bắt đầu nghi ngờ về khả năng sinh lời của phương thức kinh doanh của Ponzi và bắt đầu rút tiền. Ponzi lúc này không còn tiền trả cho khách hàng trước và công ty sụp đổ. Sau một loạt cáo buộc phải ở tù và cuối cùng bị trục xuất, Ponzi chết trong nghèo hèn. 

Trò chơi Ponzi ghi dấu trong lãnh vực tài chính như một ví dụ cơ bản cho bong bóng tài chính. Ponzi cuối cùng phải trả giá cho hành động của mình.

Ở Việt Nam mình, gần đây hàng loạt vụ vỡ hụi, và chủ hụi ôm hàng chục tỉ đồng, bỏ trốn. Con hụi ôm hận: người khóc, người chửi, người thuê giang hồ truy đuổi, người xiết nợ, người yếu quá thì sốc rồi chết. Con hụi bất lực vì các giao kèo bằng giấy tay và chính quyền không muốn can thiệp, phủi tay, bảo đó là giao dịch dân sự và các giấy viết tay không phải là bằng chứng pháp lý đầy đủ.

Đây cũng là một trò chơi Ponzi và những chủ hụi đáng ra phải bị tội lừa đảo và bị phạt hoàn trả tiền cho con hụi. Ở bên phương Tây, các giao dịch đôi khi chỉ là một cái email xác nhận là một giao dịch được thực hiện, và giá trị của một tờ giấy viết tay đã có ý nghĩa pháp lý tương đương như là một hợp đồng.

Một lần nữa, nhiệm vụ của Ngân Hàng Trung Ương phải có một cơ chế quy định chủ hụi, cũng như các cá nhân muốn kinh doanh tài chính, đăng kí, quản lý, đóng thuế, và xét cấp giấy chứng nhận. Có như vậy thì những vụ vỡ hụi mới giảm và người nghèo mới đỡ mất tiền. Nhưng tiếc là những cơ chế, chính sách đáng làm như vậy xem ra không đem lại nhiều lợi nhuận như kinh doanh vàng, nên có vẻ chưa thấy Ngân Hàng Nhà Nước mình đá động gì ?

Có bạn cho rằng đây là thị trường đen thì quan điểm của mình là chính vì là thị trường đen nên mới cần đến luật lệ của Ngân Hàng Nhà Nước bảo vệ người tham gia. Còn nếu là thị trường chính thống thì đã có sẵn luật lệ rồi. 

Giải quyết như thế nào ? Ngân Hàng Nhà Nước ra quy định, các chủ hụi phải đăng kí giấy kinh doanh, và đóng thuế, vì trước hết đây là một hoạt động kinh doanh. Thứ hai, vì đây là hoạt động tín dụng nên phải khai báo mỗi 3 tháng với chi nhánh của Ngân Hàng Nhà Nước chi nhánh địa phương, có sẵn đơn, các chủ hụi phải điền và kí tên các con hụi với tên tuổi đã đóng bao nhiêu tiền. Thứ ba, các con hụi sẽ được bảo lãnh bởi Ngân Hàng Nhà Nước số tiền bị mất với con số tối đa, chẳng hạn 30 triệu, trong trường hợp chủ hụi có đăng kí vỡ nợ. Cuối cùng, chủ hụi nào không đăng kí sẽ bị phạt nặng. Làm như vậy, sẽ phân biệt được đâu là chủ hụi có đăng kí hợp pháp và đâu là chủ hụi có tính lừa đảo. Con hụi cũng sẽ chọn chủ hụi có đăng kí mà tham gia vì như vậy, con hụi sẽ được bảo đảm một phần tài sản.

Những quy định trên không có gì mới và thế giới đã áp dụng. Ở Mỹ các tổ chức tài chính nhỏ nhan nhác và phá sản liên tục. Duy chỉ có những tổ chức đăng kí thì được chính quyền bảo lãnh. Các cơ quan như FDIC, FINRA hay SIPC đóng vai trò như những cơ quan độc lập giúp giám sát các hoạt động tài chính của các công ty tài chính.

Oslo, 10.8.2013

8.5.13

Kinh Tế Quê Nhà

Thành ngữ phương Tây có câu "đặt tay của bạn vào giày của họ" để hiểu tại sao họ hành động như vậy. Trong kinh tế học, giả thuyết đầu tiên trước khi thiết lập một mô hình là mọi người đều lý trí; lý trí theo nghĩa nếu có 2 món hàng chất lượng như nhau và giá khác nhau thì người tiêu dùng luôn chọn món rẻ hơn, hay nói một cách khác là các cá nhân trong nền kinh tế luôn khôn ngoan khi đưa ra các quyết định. 

 Phải nói hơi dông dài một chút như vậy để cho thấy rằng trung bình, những người suy nghĩ bình thường (có nghĩa là ko bị vấn đề về thần kinh) đều đưa ra các quyết định mà họ nghĩ là tốt nhất cho họ lúc đó.(Còn nó thật sự có tốt nhất cho họ hay không là một chuyện khác nữa). Từ đó mà suy ra thì Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam (NHNNVN) dành độc quyền bán vàng cũng là vì họ nghĩ đó là điều tốt nhất trước hết cho họ (mặc dù không nói ra)( và kế đến là cho toàn dân - theo lời ông Thống đốc). Khi mà NHNN (cũng như chính phủ) không có cơ chế giải trình và chịu trách nhiệm về chính sách đối với toàn dân, thì nếu như một người nào đó đang nắm giữ vị trí Thống đốc, có xác suất rất lớn cũng sẽ làm như ông Bình. 

Tại sao như vậy ? Trước hết, NHNNVN đã lỡ mua trước lúc giá vàng đột ngột rớt hơn 15% , từ lúc khoảng 1800 USD/ ounce cho đến hiện nay chỉ còn khoảng 1450 USD/ounce. Trên đời ai cũng có mắc sai lầm và đầu tư mua bán lỗ lã là chuyện thường tình. Trong hai phiên giao dịch, tỉ phú đầu cơ John Paulson mất hơn 1 tỉ USD trong 2 phiên giao dịch vì giá vàng rớt không phanh (trong ngày đó hầu như 90% cổ phiếu trên sàn New York đỏ chóe). 

Nhưng cái quan trọng ở đây là NHNNVN quyết định là price-maker khi độc quyền định giá bán vàng thay vì là price-taker bán vàng theo giá vàng trên thế giới. Đứng vào vị trí NHNN, có sẵn quyền lực trong tay, NHNN muốn bán giá nào thì bán, thì dại gì họ không bán giá cao hơn giá thế giới sao cho họ không bị lỗ. Nhờ nắm trong tay quyền lực, họ đang làm lợi trước hết cho họ. Với giá vàng khoảng 1470 USD/ounce hiện này thì giá trị 1 tấn vàng khoảng 52 triệu USD. Chúng ta không biết chính xác con số dự trữ ngoại hối của NHNN là bao nhiêu, giả sử là 10 tỉ USD thì số tiền này đủ nhập khoảng 192 tấn vàng. Dự đoán số vàng trong dân khoảng hơn 500 tấn, vị chi số tiền NHNN dự trữ chỉ có thể nhập lượng vàng tương đương với 1/3 số vàng dân hiện đang giữ. 

Nếu NHNN để tư nhân tự do nhập vàng về bán, bắt buộc họ phải có cơ chế để đổi từ VND sang USD, nếu không sẽ đẩy tỉ giá ngoại hối lên, dẫn đến áp lực phá giá tiền đồng. Cho dù để cho tư nhân tự do nhập vàng về bán trong trường hợp hiện nay cũng không giải quyết vấn đề. Vì dù ai nhập thì người dân đều mua vàng hết và có chăng khi để tư nhân nhập thì người dân mua rẻ hơn chút và NHNN thì ít có lợi nhuận hơn. Và tại sao, nếu bạn là NHNN, đang ăn cái bánh ngon lành tự nhiên đem vứt đi ? 

Vấn đề mà nhiều người không nói là người dân không tin vào chính phủ và nền kinh tế. Người dân có của cải và họ khôn ngoan biết làm sao để bảo tồn giá trị của cái (ở đâu cũng vậy, ở Mỹ họ mua cổ phiếu, trái phiếu...): đó là mua vàng. Vì họ có thể nghĩ rằng với mức lạm phát 10% hiện nay, cầm tiền VND thì ngày mai có thể trở thành tờ giấy lộn, hoặc nếu chính phủ đổi tên nước thì tiền lại bắt buộc đổi, và nếu đổi 1000 đồng cũ = 1 đồng mới thì càng gay go hơn. 

Nếu người dân ko cảm thấy yên tâm với NHNN trong mấy năm gần đây thì làm sao họ tin được trong thời gian sắp tới ? Khi cuộc khủng hoảng kinh tế xảy ra. Có hai trường phái giải quyết vấn đề: một là can thiệp, hai là để nó tự điều chỉnh. 

 Theo cách thứ nhất, nhà nước bằng mọi cách cứu các thành phần kinh tế, như doanh nghiệp, công ty... sao cho nó không chết, không phá sản, để khỏi sa thải công nhân thất nghiệp nhiều, nhà nước bơm tiền thông qua các dự án công và các cách ko truyền thống khác như cho người dân tiền để xài, food stamp để có thức ăn và để các công ty khỏi phá sản vì người dân hết tiền để mua hàng...Thường theo cách này, khi nhà nước can thiệp, họ cũng chỉ có thể can thiệp một vài công ty chính trong các ngành công nghiệp mũi nhọn. 

Cách thứ hai, người ta lập luận rằng, hãy để nền kinh tế tự vận động. Khi các công ty khó khăn nó sẽ tự có cách giảm giá, cắt bớt chi tiêu...và người tiêu dùng được lợi. Khi các công ty phá sản, giá sản phẩm sẽ giảm, đến một lúc nào đó chỉ còn một vài công ty, các công ty còn sót lại lúc này tự nhiên có thị trường rộng lớn hơn vì các công ty cạnh tranh đã chết bớt, họ sau một thời gian cải tổ để sống còn, giờ đây bắt đầu có lợi nhuận lại, bắt đầu thuê dụng trở lại nhân công và nhân công có tiền, mua sắm, kích thích nền kinh tế, và nền kinh tế bắt đầu hồi phục trở lại. 

Muốn người dân không còn đổ xô mua vàng nữa thì chỉ còn cách là duy trì mức lạm phát thấp, ổn định, phát triển nền kinh tế tăng trưởng trở lại, thị trường nhà đất và thị trường tài chính bền vững, vì đó là 2 nơi người dân có tiền đầu tư vào. Khi người dân có niềm tin vào chính phủ và tiền đồng và họ thấy rằng đầu tư ở đây đem lại lợi nhuận hơn thì họ sẽ mua trái phiếu, cố phiểu hoặc nhà đất, áp lực nhập vàng giảm đi. 

Còn khi họ kinh nghiệm rằng cầm tờ trái phiếu sau 10 năm nó trở thành tờ giấy lộn thì tốt nhất họ đi mua vàng. Trở lại nền kinh tế VN, tôi rất bi quan, vì tôi có cảm giác là chính phủ ko có một lộ trình rõ nét đưa nó ra khỏi vũng lầy hiện tại. Mỹ mất 5 năm để bước ra khỏi khủng hoảng. VN có nhiều khả năng không nhanh hơn. Tình trạng hiện nay ở VN giống như một anh tài xế không biết lái và cũng ko biết đường đang lái chiếc xe hư.

28.9.12

Porto


Cách Frankfurt, trung tâm tài chính châu Âu, chỉ 3 giờ bay, tuy nhiên, đối với không chỉ người xứ khác, Porto vẫn là một cái tên xa lạ ngay cả với nhiều người châu Âu. Có những thành phố bình dị, không ồn ào khoa trương, không quảng cáo rầm rộ, người lữ khách đến đó như một chuyến quá giang và bắt gặp những điều duyên dáng, yên hơn và muốn một lần trở lại. Porto là như vậy.

Porto, hay thường được biết đến trong tiếng Anh là Oporto, là thành phố lớn thứ 2 của Bồ Đào Nha chỉ sau Lisbon. Trong tiếng Bồ Đào Nha, tên thành phố được đọc kèm với một mạo từ hạn định là “o”, nên khi đọc Porto, tiếng Bồ Đào Nha đọc là “o Porto” (có nghĩa là cái cảng). Và do đó, mà cách phát âm của người Bồ bị nhiều người Anh hiểu sai, học nguyên cách phát âm và viết lại nên tiếng Anh mới có thêm từ Oporto để chỉ Porto.

Nằm vắt trên cửa sông Douro, phía Bắc Bồ Đào Nha, Porto là một trong những đô thị chính của phía Nam châu Âu. Thành phố Porto có diện tích 150 dặm vuông và dân số khoảng 1.3 triệu.

Lịch sử hình thành của Porto bắt đầu từ khoảng thế kỷ thứ 4. Trong thời kì nằm dưới sự thống trị của La Mã, Porto là một hải cảng quan trọng chủ yếu phục vụ giao thương giữa Olissipona (ngày nay là Lisbon) và Bracara Augusta (ngày nay là Braga).
  
Porto nổi tiếng thế giới với rượu vang bổ. Port wine, Vinho do Porto, Porto hay đơn giản hơn port chỉ loại rượu được sản xuất duy nhất tại vùng thung lũng sông Porto. Rượu Porto là loại rượu vang đỏ, có vị đặc trưng ngọt, và thường dùng làm rượu khai vị.
  
Rượu Porto sản xuất ở thung lũng sông Douro được biết đến và bắt đầu xuất khẩu kể từ thế kỷ thứ 13. Rượu thường được chứa trong các thùng gỗ và được vận chuyển bằng những chiếc thuyền chèo bằng gỗ có lòng hơi phẳng.
  
Vào năm 1703, hiệp ước Methuen thiết lập giao thương giữa Bồ Đào Nha và Anh. Năm 1717 người Anh thiết lập trạm giao thương đầu tiên ở Porto chủ yếu để mua rượu. Việc sản xuất rượu ở Porto sau đó lần lượt rơi vào tay các công ty của người Anh. Nhằm chống thế thống trị của người Anh, thủ tướng Marquis of Pombal của Bồ Đào Nha bấy giờ cho thành lập một công ty Bồ Đào Nha độc quyền về rượu xuất xứ từ vùng thung lũng sông Porto. Ông chia các vùng để sản xuất rượu và bảo đảm chất lượng rượu. Cuối cùng, một nhóm người làm rượu nổi dậy chống lại các chính sách hà khắc của ông trong ngày Xưng Tội Thứ Ba đốt cháy các tòa nhà của công ty này. Cuộc nổi dậy này được gọi là cuộc nổi dậy của những gã say rượu.
  
Trong suốt thế kỉ 18 và 19, Porto trở thành một trung tâm công nghiệp nhộn nhịp với các hoạt động công nghiệp và giao thương. Trong khoảng thời gian này. thành phố mở rộng ra và dân số tăng lên.

Ngày nay, Porto được xem là một trong những trung tâm lâu đời của châu Âu và được công nhân là di sản văn hóa thế giới UNESCO vào năm 1996.

Thành phố nổi bật với kiến trúc của các nhà thờ, từ roman, gothic cho đến baroque, cùng sự xinh xắn của các ngôi nhà cổ còn lại từ thế kỉ thứ 15 nằm dọc bên triền sông. Thế kỉ 19 và 20 được đánh dầu bằng trường phái tân cổ điển và lãng mạn ở các biểu tượng kỉ niệm của thành phố. Người dân Porto rất hiền và dễ mến, thức ăn ngon và đặc biệt, giá cả rẻ hơn so với mặt bằng chung các nước Tây Âu.

Đến Porto trong một chiều, thả bộ dọc triền sông hay leo lên một chiếc thuyền nhỏ sau khi ghé thăm các xưởng rượu để thưởng thức vị rượu Porto, để mùi gió cửa sông mang theo hơi mằn mặn của biển quyện vào người, ngắm mặt trời lặn dần phía đằng xa hắt những vệt nắng vàng cuối cùng lên dãy nhà cổ….cảm giác bâng khuâng một châu Âu nhẹ nhàng, bình dị. Đến và muốn quay lại.









18.8.12

Giáo dục: cứu cánh cho nền kinh tế Việt Nam


Kinh tế Việt Nam đang đứng trước những khó khăn rất lớn. Không khó để thấy được các khó khăn chính phủ đang phải đối mặt, đó là nợ xấu ngân hàng, các doanh nghiệp tư nhân phá sản tăng, doanh nghiệp nhà nước kinh doanh kém hiệu quả, sức mua nội địa giảm, thất nghiệp tăng nhanh… Đối với chính phủ, vấn đề quan tâm nóng nhất hiện nay là các vấn đề về kinh tế: làm sao để vực dậy một nền kinh tế tăng trưởng ốm yếu.

Khi quan sát thấy số doanh nghiệp khai báo phá sản hoặc ngừng hoạt động hơn 70 ngàn doanh nghiệp chỉ trong vòng 5 tháng, nhiều phân tích “lạc quan” cho rằng đây cuối cùng cũng chỉ là sự “phá hủy sáng tạo” (creative destruction) nhằm tạo ra một thế hệ các công ty có năng lực vượt trội. Nếu nhìn kỹ vào thực trạng của nền kinh tế, đó là một sự lạc quan không căn cứ. Sự phá hủy sáng tạo thường đi kèm với nó là những tiến bộ về công nghệ và tiến triển về năng suất lao động. Điều này không hề thấy trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay, ít nhất là trong ngắn hạn. Có ý kiến cho rằng sau cuộc khủng hoảng này, các doanh nghiệp sống sót sẽ cải tổ để hoạt động hiệu quả hơn. Điều này đúng chủ yếu với các doanh nghiệp nhà nước chịu bao cấp, sau cuộc khủng hoảng này sẽ phải được cải tổ và áp đặt một cơ chế hoạt động và giám sát mới. Tuy vậy, nếu những chính sách kinh tế của chính phủ như hiện nay có thể giúp phục hồi nền kinh tế, Việt Nam cũng chỉ quay lại với những cơ cấu kinh tế kiểu cũ. Có nhiều dự đoán cho thấy nền kinh tế hiện nay đã tăng trưởng gần đến mức bão hòa khi dựa vào những nguồn lực sẵn có về công nghệ, nguồn nhân lực rẻ và tài nguyên. Nếu không có một chính sách đầu tư về nguồn nhân lực, có nhiều khả năng Việt Nam sẽ chỉ loay hoay với mô hình kinh tế kiểu cũ và rơi vào bẫy thu nhập trung bình.

Câu hỏi đặt ra là bắt đầu những cải cách về chính sách đầu tư nguồn nhân lực như thế nào. Đây là một câu hỏi liên quan đến giáo dục và cơ chế. Dưới đây là một vài điểm chính mà chính sách giáo dục có thể thực hiện ngay nhằm vực dậy nền khoa học và giáo dục.

  1. Tăng mức lương cơ bản

Chất lượng giảng viên đại học hiện nay rất kém. Với một mức lương cơ bản dưới 5 triệu đồng hàng tháng, so với thời giá hiện đại, một giảng viên khó mà sống nổi với nghề nếu họ không “chạy sô” đi dạy thêm trường khác. Tuy vậy, không phải giảng viên nào cũng kiếm được sô để dạy thêm. Vào cơ hữu ở đại học lúc này giống như có một chân ở đại học và người giảng viên dùng cái uy tín để đi kiếm tiền thêm nơi khác. Động lực để nghiên cứu và cải thiện đóng góp chương trình dạy và học không có. Ngoại trừ những giảng viên thâm niêm có vị trí cao nhận được những lớp dạy với mức thù lao hậu hĩnh, mức thu nhập cho giảng viên mới vào quá thấp.

Khi mức lương cơ bản trả cho một thạc sỹ để làm giảng viên ở trường đại học chưa tới 5 triệu đồng / tháng, khó có thể giữ chân những giảng viên ưu tú khi mức lương ở ngoài thị trường hấp dẫn hơn nhiều. Kết quả là chỉ còn những giảng viên ở lại với mục đích kiếm một suất học bổng đi du học, hoặc kiếm thêm sô đi dạy, hoặc cảm thấy ít có khả năng cạnh tranh ở ngoài và muốn an phận. Những sinh viên ưu tú không muốn dấn thân vào con đường khoa học và giảng dạy.

Tuy vậy, không phải là trường không có tiền để trả lương giảng viên, mà thực chất là có những khoản tiền bị “thất thoát”. Lấy ví dụ, mức lương thỉnh giảng mà một giảng viên được nhận cho một lớp đại học công lập là khoảng 120 ngàn đồng / tiết. Mức lương trung bình theo tiết trả cho giảng viên cơ hữu còn rẻ hơn nhiều nữa. Một lớp khoảng 100 sinh viên, vị chi một sinh viên trả 1,2 ngàn đồng / tiết. Một môn học trung bình khoảng 50 tiết, mỗi sinh viên trả khoảng 60 ngàn đồng tiền giảng cho một môn học. Nếu một năm học gồm hai học kì có tổng cộng 15 môn, số tiền phải trả cho giảng viên thỉnh giảng là 900 ngàn đồng/ sinh viên. Nếu giả sử các chi phí về điện, nước, hành chính liên quan bằng số tiền trả cho giảng viên thỉnh giảng thì tổng mức chi phí cho một sinh viên trong 2 năm học chưa tới 2 triệu đồng/sinh viên. Với mức học phí mỗi học kì trung bình 5 triệu đồng như hiện nay, nhà trường có thể “bỏ túi” ít nhất khoảng 8 triệu đồng/sinh viên/năm học. Trên đây là con số với giả sử trả cho giảng viên thỉnh giảng và ở trường công với mức học phí ưu đãi, nếu các trường chỉ bao gồm giảng viên cơ hữu, mức chi trả lương cho giảng viên có thể thấp đi tới một nữa, hoặc ở các trường dân lập, mức học phí tăng cao hơn, và do đó lợi nhuận từ học phí cao hơn con số 8 triệu đồng / sinh viên / năm nhiều. Với một ngôi trường có khoảng 10 nghìn sinh viên, mỗi năm trường thu nhập ít nhất 80 tỉ trước thuế, chưa kể các khoản đóng góp, hợp tác, hỗ trợ khác. Chính vì lợi nhuận khổng lồ đó, hàng loạt trường đại học đã được mở ra chỉ trong một khoản thời gian ngắn.

Việc quy định mức lương cơ bản cho các giảng viên trẻ, ít nhất là bằng mức lương mà họ có thể kiếm được ở ngoài, là cần thiết. Việc tăng mức lương cơ bản còn giúp tôn vinh vị trí giảng viên và tạo động lực thu hút những sinh viên ưu tú tham gia vào hoạt động giáo dục.

Bên cạnh đó, các mức thưởng nên căn cứ vào thành tích nghiên cứu khoa học của các giảng viên nhằm khích lệ tinh thần nghiên cứu khoa học cũng như cung cấp thêm thu nhập cho giảng viên.

  1. Rà soát và cải tạo các chương trình đào tạo tiến sỹ

Các chương trình đào tạo tiến sỹ nhằm đào tạo ra đội ngũ nghiên cứu khoa học cho đất nước, thay vì cấp các tấm bằng giúp cho việc thăng tiến trong hành chính sự nghiệp. Trong một thời gian dài, việc buông lỏng quản lý các chương trình này đã tạo ra những thế hệ tiến sỹ trình độ kém, không có khả năng nghiên cứu khoa học. Những vị này sau khi nhận bằng lại quay ra nắm giữ những vị trí lãnh đạo trọng trách trong giáo dục, đào tạo và nhiều lĩnh vực khác đã khiến nền giáo dục và khoa học ngày càng đi xuống.

Việc rà soát lại các chương trình đào tạo tiến sỹ của các trường đại học nhằm đảm bảo chỉ có những chương trình đào tạo có chất lượng mới được thực hiện.

Trước mắt nên đặt mục tiêu các nghiên cứu sinh tiến sỹ của Việt Nam khi bảo vệ luận văn phải có trình độ tương đương với các nước trong khu vực. Để làm được điều này, Bộ Giáo Dục nên có quy định hội đồng bảo vệ luận văn tiến sỹ có ít nhất một giám khảo đến từ một trường đại học có uy tín nước ngoài.

Thực hiện quy định này rất khó khăn trong điều kiện hiện nay, nhưng không phải là không thể. Thay vì mỗi trường có một chương trình đào tạo tiến sỹ riêng, Bộ Giáo Dục nên đứng ra hỗ trợ các trường trong một khu vực hợp tác tổ chức một trung tâm chung đào tạo các chương trình sau đại học, một kiểu graduate school ở các nước phương Tây. Các giáo sư là các giảng viên ưu tú từ các trường này. Các trung tâm này được cấp kinh phí nghiên cứu và khuyến khích sự hợp tác với các giáo sư người Việt ở nước ngoài trong việc hỗ trợ và hướng dẫn nghiên cứu sinh.

Bộ Giáo Dục nên ra một quy định là miễn phí chương trình học nghiên cứu sinh và chỉ những nghiên cứu sinh bằng cách này hay cách khác nhận được nguồn tài chính để theo học các chương trình tiến sỹ mới được nhập học. Nên có một quỹ học bổng đài thọ cho các nghiên cứu sinh ưu tú chi phí sinh hoạt bên cạnh quy định miễn học phí.

  1. Lọc chất lượng giảng viên

Tăng mức lương cơ bản chỉ giúp tạo một động lực hấp dẫn những sinh viên ưu tú quan tâm và dấn thân vào khoa học và giáo dục. Nó là điều kiện cần để ngành giáo dục và đào tạo có thể phát triển.

Ở Việt Nam, các trường đại học, chủ yếu là công lập, còn đối diện với một thực tế là họ đã đủ chỉ tiêu giảng viên, không thể tuyển thêm giảng viên trẻ, nhưng lực lượng giảng viên hiện có đa số rất thụ động không muốn dấn thân nghiên cứu hay cải thiện việc giảng dạy. Việc tăng lương do đó không thể giải quyết được vấn đề cải thiện chất lượng giáo dục trong trường hợp này. Một giải pháp khác là lọc giảng viên thông qua chất lượng nghiên cứu khoa học. Bộ Giáo Dục nên ra quy định là các giảng viên cơ hữu muốn duy trì vị trí phải có ít nhất ba bài báo trên các tạp chí quốc tế hoặc đã bảo vệ luận văn tiến sỹ ở một trường có uy tín ở nước ngoài. Việc đưa ra một quy định như vậy nên có một lộ trình để thực hiện, thời gian hợp lý khoảng 5 năm kể từ ngày đưa ra quy định. 5 năm cũng là một khoảng thời gian đủ để một nghiên cứu sinh hoàn thành luận án tiến sỹ.
Sau 5 năm, nếu những giảng viên cơ hữu hiện thời không hoàn thành quy định sẽ bị cắt hợp đồng.

Trong những trường hợp các vị trí giảng viên tại các trường đại học công lập có được là do sự đút lót thay vì trình độ và khả năng nghiên cứu khoa học, việc đưa ra một quy định lọc chất lượng giảng viên như vậy cũng sẽ tự động giúp loại bỏ đi những giảng viên yếu kém.

  1. Sửa lại chính sách cấp học bổng đào tạo tiến sỹ

Các chương trình như 322, 911 chủ yếu cấp học bổng cho cán bộ, giảng viên của các trường đại học nhằm hoàn thiện chương trình tiến sỹ ở nước ngoài và về nước công tác.

Mục tiêu rất tốt đẹp, tuy nhiên các chương trình này thực sự không hiệu quả.

Như đã phân tích ở trên, với chế độ đãi ngộ quá thấp như hiện nay, lực lượng giảng viên trẻ cơ hữu còn giữ lại ở các trường đại học không phải là lớp sinh viên ưu tú nhất, nếu không nói là chỉ hạng khá. Lớp sinh viên ưu tú nhất không kham chịu nổi các khó khăn về tài chính đã ra ngoài làm cho các công ty.

Chính sách cấp học bổng ưu đãi cho cán bộ công nhân viên trong trường hợp này giống như là phần thưởng cho những đóng góp với mức lương rẻ mạt của họ cho nền giáo dục. Những cán bộ, giảng viên này sau khi cố gắng học xong các chương trình tiến sỹ bắt buộc quay về nước phục vụ trở lại cho giáo dục. Với năng lực chỉ ở hạng khá, các nghiên cứu khoa học của họ nếu có cũng chỉ ở mức bình bình. Thêm nữa, việc phải chấp nhận một mức lương thấp đồng nghĩa với việc họ không có động lực đóng góp vào giáo dục và nghiên cứu khoa học. Nếu có tham gia vào giáo dục, họ cũng sẽ cố gắng kiếm một vị trí tốt về mặt hành chính để từ đó có thể thông qua các dự án hay dạy thêm để kiếm thêm thu nhập. Ở đây, tấm bằng tiến sỹ chỉ còn có mục đích thăng tiến vị trí hành chính thay vì nó là khởi đầu của một sự nghiệp khoa học.

Chính sách cấp học bổng của Bộ Giáo Dục do đó cần sửa lại theo hướng khuyến khích động cơ của người học và đóng góp vào sự nghiệp giáo dục. Trước tiên, chính sách cấp học bổng nên mở và xét chung cho cả các đối tượng đang làm việc ở các khu vực ngoài giáo dục với điều kiện các đối tượng này sau khi nhận học bổng sẽ phải làm việc cho một tổ chức giáo dục hay khoa học của Việt Nam trong một thời gian như trong hợp đồng. Làm như vậy sẽ thu hút được lớp sinh viên ưu tú nhất vốn đã ra ngoài làm việc.

Quá trình xét cấp học bổng nên được thực hiện một cách công bằng dựa vào trình độ học vấn và khả năng theo đuổi chương trình tiến sỹ. Tuy nhiên, nếu cả hai thí sinh đều như nhau, lẽ dĩ nhiên nên ưu tiên các cán bộ giảng viên trẻ có kinh nghiệm nghiên cứu giảng dạy và đóng góp vào sự nghiệp giáo dục.

Khi các nghiên cứu sinh đã hoàn tất quá trình học và quay về nước, trường đại học nên cung cấp một cơ chế ưu đãi về lương bổng và chế độ làm việc. Mức đãi ngộ này ít nhất phải tương đương với mức thu nhập mà họ có thể kiếm được bên ngoài.

Có như vậy ngành giáo dục mới có thể thu hút được những sinh viên ưu tú nhất của quốc gia sẵn lòng nghiên cứu khoa học và nhiệt tình đóng góp vào sự nghiệp khoa học và giáo dục cho đất nước.

Bộ Giáo Dục nên dành hẳn một phần trên trang web của mình liệt kê các loại học bổng, chỉ tiêu hàng năm, cách thức nộp đơn, điều kiện. Nên cho phép nộp đơn online trực tiếp và công khai người nhận học bổng và người nộp đơn trên mạng.  Điều này cũng giúp giảm đi những tiêu cực trong quá trình xét duyệt.

  1. Sắp xếp lại ban quản trị trường đại học

Cơ chế tự chủ trường đại học đã được bàn nhiều. Các mô hình cũng có rất nhiều. Tuy vậy, nhìn chung ban quản trị các trường đại học bao gồm một ủy ban với một người đứng đầu được tuyển chọn bởi chính một ủy ban từ trường đại học hoặc một ủy ban giáo dục bên ngoài thường là từ Bộ Giáo Dục. Ban quản trị của trường đại học chịu trách nhiệm bổ nhiệm nhân sự, giáo sư, quản trị tài chính, được quyền tự thiết kế chương trình học và định hướng của ngôi trường.

Trong trường hợp của Việt Nam, một ủy ban bổ nhiệm ban quản trị của một trường đại học nên do Bộ Giáo Dục chủ trì. Cơ chế tự chủ với một ban quản trị có viễn kiến sẽ giúp cho trường đại học nhanh chóng chuyển đổi phương thức dạy, học và nghiên cứu của mình.

  1. Đào tạo kỹ năng học suốt đời

Một trong những kỹ năng để tồn tại và phát triển đối với bất kì một chuyên gia nào trong thời đại hiện nay là khả năng tự học suốt đời.

Tự biết mình là các nước nhỏ (về dân số, Đan Mạch: 5,5 triệu, Nauy: 5 triệu , Thụy Điển: 9,4 triệu, Phần Lan: 5,4 triệu) và dùng ngôn ngữ đặc trưng, khả năng tồn tại và phát triển do đó chủ yếu dựa vào ngoại thương với các nước khác và nền tri thức cũng phải phụ thuộc vào các nước lớn hơn, các nước Bắc Âu (Đan Mạch, Nauy, Thụy Điển, Phần Lan) đã đưa “kỹ năng học suốt đời” thành một chính sách giáo dục của mình.

Chính sách này nhấn mạnh việc đào tạo những sinh viên có khả năng tự học, tự nắm bắt những kiến thức, kỹ thuật mới. Một mục tiêu ban đầu quan trọng là trang bị cho sinh viên khả năng ngoại ngữ, chủ yếu là tiếng Anh, nhằm nắm bắt trực tiếp kiến thức khoa học thế giới. Ngày nay, rất dễ dàng bắt gặp một sinh viên nói tiếng Anh lưu loát như người bản địa ở các nước Bắc Âu hơn tại bất cứ quốc gia nào không dùng tiếng Anh. Ngoài việc trang bị khả năng Anh ngữ cho giáo viên, cải thiện chương trình học, các chương trình tivi bằng tiếng Anh cũng giúp cho sinh viên làm quen với tiếng Anh từ rất sớm. Từ bậc cao học trở lên, các chương trình chủ yếu bằng tiếng Anh.

May mắn là gần đây các chương trình truyền hình cáp của Việt Nam bắt đầu có nhiều chương trình bằng tiếng Anh giúp thế hệ trẻ quen dần với ngôn ngữ quốc tế này. Tuy vậy, có nhiều điều cần làm để thực hiện chính sách “đào tạo kỹ năng học suốt đời” cho học sinh, sinh viên.

Một việc có thể thực hiện được là bắt buộc các chương trình từ cao học trở lên thực hiện tại các trung tâm đào tạo sau đại học phải được trực tiếp giảng dạy và nghiên cứu bằng tiếng Anh.

Bên cạnh đó, nâng cấp các chương trình đào tạo Anh ngữ tại các trường đại học và bắt buộc sinh viên dùng các giáo trình tham khảo bằng Anh ngữ khi thực hiện giảng dạy và nghiên cứu.

Các chương trình học hiện nay dành cho bậc đại học là quá dài: trung bình 4 năm cho khối ngành kinh tế và 4.5 - 5 năm cho khối ngành kỹ thuật. Nên rút lại còn 3 năm cho khối ngành kinh tế và 4 năm cho khối ngành kỹ thuật, bên cạnh đó kèm thêm các chương trình tiếng Anh thực tế hơn.

“Kỹ năng học suốt đời” nên được trang bị cho trẻ từ khi mới chào đời. Ở Phần Lan, khi mang thai, bố mẹ được tặng 3 cuốn sách. Một cho bố, một cho mẹ và một cho đứa trẻ mới chào đời. Sách cho bố và mẹ hướng dẫn cách chăm sóc con. Sách cho trẻ kích thích và giúp trẻ làm quen với việc đọc sách ngay từ bé. Khả năng đọc sách, tìm tòi nghiên cứu được làm quen từ bé giúp trẻ sớm phát triển khả năng sáng tạo và tự học khi lớn lên.

Bộ Giáo Dục cũng nên có chính sách định hướng và khuyến khích việc đọc sách của trẻ em, cũng như khuyến khích việc xây dựng thêm các thư viện trung tâm ở các huyện, xã.

***

Cải cách giáo dục là một quá trình lâu dài với rất nhiều lĩnh vực đòi hỏi phải cải tổ. Trên đây chỉ là vài ý, và danh sách trên chắc chắn không hoàn hảo. Có nhiều vấn đề cần phải bàn thêm về giáo dục tiểu học, trung học,... Những ý kiến trên mục tiêu chỉ nhắm chủ yếu đến đào tạo bậc đại học và sau đại học, vì đây là giai đoạn quan trọng đào tạo những kĩ năng cần thiết cho các chuyên gia đầu ngành, giảng viên của các trường đại học. Đây là lực lượng có tác động rất lớn đến sự thay đổi của giáo dục và hình thành nên bộ mặt khoa học công nghệ của một quốc gia. Sự thay đổi về chất và lượng của lực lượng này sẽ ảnh hưởng sâu sắc lên cách thực hiện chính sách giáo dục. Có thể nói cách thay đổi như vậy là cách thay đổi từ trên xuống.

Sự phát triển của một quốc gia phải được nâng đỡ bởi chính nội lực của nó. Nội lực ở đây là trình độ giáo dục, khoa học và công nghệ. Không có một quốc gia phát triển nào mà không có một hệ thống giáo dục khoa học tiên tiến. Cũng như, không có một quốc gia nào có một hệ thống giáo dục khoa học tiên tiến mà không phát triển.

Những cố gắng cải thiện chính sách kinh tế trong ngắn hạn nên được đi kèm với những hỗ trợ và cải cách về giáo dục mạnh mẽ hơn. Có như vậy nền kinh tế mới có những bước nhảy vọt lên một ví trí cao hơn.

Lẽ dĩ nhiên, khi thực hiện những cải cách như trên sẽ gặp phải rất nhiều chống đối từ những người đang hưởng lợi từ việc duy trì tình trạng hiện có của hệ thống. Đó là những giảng viên không muốn nỗ lực nghiên cứu khoa học, những nhà quản trị đại học trình độ kém, và những cá nhân hưởng lợi khác. Việc thực hiện những cải cách như vậy do đó phải phát xuất từ một quyết tâm chính trị. Ở đây, vai trò của các chính trị gia quyết định. 

Nguyễn Huy Vũ
21/06/2012

14.4.12

Nghiên cứu ở Việt Nam

Hồi còn ở VN, lúc còn học ở trường Khoa Học Tự Nhiên, Tp. Hồ Chí Minh, có hội thi thả trứng không bể. Thả quả trứng từ tầng 4 của tòa nhà sao cho quả trứng không bể. Quả trứng bị bể coi như thua. Suy nghĩ cách nào thả quả trứng mà không bể. Một chiều đi học về lang thang, suy nghĩ, chợt thấy trái dầu bay từ từ xoay tít trong gió nhờ 2 chiếc lá như cánh quạt giảm tốc độ. Về nhà làm một một khung bằng thép nhỏ, có 2 cánh quạt chăng bằng bọc nylon, đo cánh mọi thứ, rồi bỏ quả trứng vào, thả thử, trứng không bể. Yên tâm đi thi. Ngày thi, thấy các "cao thủ" rất đông. Sử dụng đủ các "chiêu thức". Kẻ thì làm mô hình trái bóng bằng nước, trong để quả trứng bên trong. Người thì dùng "tên lửa" bên trong để quả trứng. 1, 2, 3 từ từ thả mô hình. Thả từ tầng 4 xuống và đứng quan sát. Trứng vỡ hết. Riêng mô hình của tôi hình quả dầu với 2 cánh bay nhẹ nhẹ, chầm chậm xuống, tiếp đất an toàn và quả trứng không bể. Thắng giải nhất, được đâu 100 ngàn. Dẫn mấy đứa bạn đi ăn kem. Hết. Đối với nhiều người lúc bấy giờ, nghiên cứu hay phát triển ở VN là một cái gì đó kiểu ... vui chơi. Thừa tiền, rỗi sức. Bởi suy nghĩ đơn giản là nghiên cứu không tạo ra tiền. Họ có thể suy nghĩ và thầm khâm phục người phương Tây về khả năng và sự đam mê nghiên cứu, nhưng đối với họ nghiên cứu là một cái gì rất cao xa và ... không cần thiết, nhất là ở VN. Mua công nghệ về làm, mua bộ phận về lắp ráp, hoặc mua hàng hóa đã làm sẵn (từ Trung Quốc, Hàn Quốc, hoặc vài nước khác) về bán dễ sinh lợi hơn.

Mười năm sau về lại. Tôi vẫn chưa thấy sự thay đổi trong suy nghĩ của nhiều người ở VN. Ở ngay chính những người đã tốt nghiệp ra trường đại học và đi làm. Nghiên cứu không cần thiết, nghiên cứu một cách cơ bản, sâu sắc lại càng không; và người châu Âu cái gì cũng thích nghiên cứu. Đúng.

Hàng ngày chúng ta xem những kênh Geographic Channel, mới khâm phục lòng kiên trì và đam mê nghiên cứu của họ. Họ có thể dành 30 năm chỉ để nghiên cứu con tàu Titanic tại sao bị chìm và chìm như thế nào. Mà đôi khi chúng ta chỉ mất 30 phút để xem kết luận của họ. Họ dành cả cuộc đời chỉ để nghiên cứu chất phóng xạ, mà cuối cùng chúng ta chỉ có thể học nó mất 10 phút với 2 dòng công thức. Và còn nhiều nhiều nữa những ví dụ xung quanh. Nếu không có những nghiên cứu như vậy, sự hiểu biết của xã hội chỉ có thể bước những bước rất ngắn. Gần hơn, nếu không có những nghiên cứu đàng hoàng về công nghệ mobiphone thì Việt Nam cũng chỉ dừng lại là một nước tiêu dùng.

Khi mà những lực lượng làm công việc trí óc có thể tạm gọi là tấng lớp ưu tú của xã hội còn nghĩ rằng nghiên cứu và phát triển là những thứ xa xỉ của Việt Nam. Thì mãi mãi Việt Nam chỉ có thể dừng chân là một nơi lắp ráp và là nhà máy sản xuất các bộ phận giản đơn của nhân loại.

Một điều ngạc nhiên nữa khi về Việt Nam, đó là sinh viên ngành ngân hàng không được học gì về kinh tế vi mô và vĩ mô một cách nghiêm túc. Kinh tế lượng (econometrics) lại càng không. Có cảm giác là những sinh viên ngành ngân hàng chỉ được đào tạo nghiệp vụ thực hiện các giao dịch cơ bản của ngân hàng thay vì là một chuyên viên kinh tế tài chính một cách nghiêm túc. Một ví dụ về cách ăn xổi ở thì của giáo dục.

Dĩ nhiên, nghiên cứu đòi hỏi những kinh phí rất lớn mà chỉ có nhà nước thông qua các viện và trường đại học hoặc những công ty lớn có thể đảm đương nổi. Nhưng trước hết đó là sự thay đổi tư duy và triết lý phát triển của toàn xã hội, bắt đầu bởi những nhóm người được gọi là có học thức nhất của xã hội. Cũng giống như một người đi đường đang cầm bản đồ, anh ta phải quyết định một hướng đi rõ ràng trước khi bắt đầu một cuộc hành trình dài và khó khăn. Hoặc là anh ta đến đích thành công hoặc là anh ta chỉ lẩn quẩn xung quanh.