28.9.12

Porto


Cách Frankfurt, trung tâm tài chính châu Âu, chỉ 3 giờ bay, tuy nhiên, đối với không chỉ người xứ khác, Porto vẫn là một cái tên xa lạ ngay cả với nhiều người châu Âu. Có những thành phố bình dị, không ồn ào khoa trương, không quảng cáo rầm rộ, người lữ khách đến đó như một chuyến quá giang và bắt gặp những điều duyên dáng, yên hơn và muốn một lần trở lại. Porto là như vậy.

Porto, hay thường được biết đến trong tiếng Anh là Oporto, là thành phố lớn thứ 2 của Bồ Đào Nha chỉ sau Lisbon. Trong tiếng Bồ Đào Nha, tên thành phố được đọc kèm với một mạo từ hạn định là “o”, nên khi đọc Porto, tiếng Bồ Đào Nha đọc là “o Porto” (có nghĩa là cái cảng). Và do đó, mà cách phát âm của người Bồ bị nhiều người Anh hiểu sai, học nguyên cách phát âm và viết lại nên tiếng Anh mới có thêm từ Oporto để chỉ Porto.

Nằm vắt trên cửa sông Douro, phía Bắc Bồ Đào Nha, Porto là một trong những đô thị chính của phía Nam châu Âu. Thành phố Porto có diện tích 150 dặm vuông và dân số khoảng 1.3 triệu.

Lịch sử hình thành của Porto bắt đầu từ khoảng thế kỷ thứ 4. Trong thời kì nằm dưới sự thống trị của La Mã, Porto là một hải cảng quan trọng chủ yếu phục vụ giao thương giữa Olissipona (ngày nay là Lisbon) và Bracara Augusta (ngày nay là Braga).
  
Porto nổi tiếng thế giới với rượu vang bổ. Port wine, Vinho do Porto, Porto hay đơn giản hơn port chỉ loại rượu được sản xuất duy nhất tại vùng thung lũng sông Porto. Rượu Porto là loại rượu vang đỏ, có vị đặc trưng ngọt, và thường dùng làm rượu khai vị.
  
Rượu Porto sản xuất ở thung lũng sông Douro được biết đến và bắt đầu xuất khẩu kể từ thế kỷ thứ 13. Rượu thường được chứa trong các thùng gỗ và được vận chuyển bằng những chiếc thuyền chèo bằng gỗ có lòng hơi phẳng.
  
Vào năm 1703, hiệp ước Methuen thiết lập giao thương giữa Bồ Đào Nha và Anh. Năm 1717 người Anh thiết lập trạm giao thương đầu tiên ở Porto chủ yếu để mua rượu. Việc sản xuất rượu ở Porto sau đó lần lượt rơi vào tay các công ty của người Anh. Nhằm chống thế thống trị của người Anh, thủ tướng Marquis of Pombal của Bồ Đào Nha bấy giờ cho thành lập một công ty Bồ Đào Nha độc quyền về rượu xuất xứ từ vùng thung lũng sông Porto. Ông chia các vùng để sản xuất rượu và bảo đảm chất lượng rượu. Cuối cùng, một nhóm người làm rượu nổi dậy chống lại các chính sách hà khắc của ông trong ngày Xưng Tội Thứ Ba đốt cháy các tòa nhà của công ty này. Cuộc nổi dậy này được gọi là cuộc nổi dậy của những gã say rượu.
  
Trong suốt thế kỉ 18 và 19, Porto trở thành một trung tâm công nghiệp nhộn nhịp với các hoạt động công nghiệp và giao thương. Trong khoảng thời gian này. thành phố mở rộng ra và dân số tăng lên.

Ngày nay, Porto được xem là một trong những trung tâm lâu đời của châu Âu và được công nhân là di sản văn hóa thế giới UNESCO vào năm 1996.

Thành phố nổi bật với kiến trúc của các nhà thờ, từ roman, gothic cho đến baroque, cùng sự xinh xắn của các ngôi nhà cổ còn lại từ thế kỉ thứ 15 nằm dọc bên triền sông. Thế kỉ 19 và 20 được đánh dầu bằng trường phái tân cổ điển và lãng mạn ở các biểu tượng kỉ niệm của thành phố. Người dân Porto rất hiền và dễ mến, thức ăn ngon và đặc biệt, giá cả rẻ hơn so với mặt bằng chung các nước Tây Âu.

Đến Porto trong một chiều, thả bộ dọc triền sông hay leo lên một chiếc thuyền nhỏ sau khi ghé thăm các xưởng rượu để thưởng thức vị rượu Porto, để mùi gió cửa sông mang theo hơi mằn mặn của biển quyện vào người, ngắm mặt trời lặn dần phía đằng xa hắt những vệt nắng vàng cuối cùng lên dãy nhà cổ….cảm giác bâng khuâng một châu Âu nhẹ nhàng, bình dị. Đến và muốn quay lại.









18.8.12

Giáo dục: cứu cánh cho nền kinh tế Việt Nam


Kinh tế Việt Nam đang đứng trước những khó khăn rất lớn. Không khó để thấy được các khó khăn chính phủ đang phải đối mặt, đó là nợ xấu ngân hàng, các doanh nghiệp tư nhân phá sản tăng, doanh nghiệp nhà nước kinh doanh kém hiệu quả, sức mua nội địa giảm, thất nghiệp tăng nhanh… Đối với chính phủ, vấn đề quan tâm nóng nhất hiện nay là các vấn đề về kinh tế: làm sao để vực dậy một nền kinh tế tăng trưởng ốm yếu.

Khi quan sát thấy số doanh nghiệp khai báo phá sản hoặc ngừng hoạt động hơn 70 ngàn doanh nghiệp chỉ trong vòng 5 tháng, nhiều phân tích “lạc quan” cho rằng đây cuối cùng cũng chỉ là sự “phá hủy sáng tạo” (creative destruction) nhằm tạo ra một thế hệ các công ty có năng lực vượt trội. Nếu nhìn kỹ vào thực trạng của nền kinh tế, đó là một sự lạc quan không căn cứ. Sự phá hủy sáng tạo thường đi kèm với nó là những tiến bộ về công nghệ và tiến triển về năng suất lao động. Điều này không hề thấy trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay, ít nhất là trong ngắn hạn. Có ý kiến cho rằng sau cuộc khủng hoảng này, các doanh nghiệp sống sót sẽ cải tổ để hoạt động hiệu quả hơn. Điều này đúng chủ yếu với các doanh nghiệp nhà nước chịu bao cấp, sau cuộc khủng hoảng này sẽ phải được cải tổ và áp đặt một cơ chế hoạt động và giám sát mới. Tuy vậy, nếu những chính sách kinh tế của chính phủ như hiện nay có thể giúp phục hồi nền kinh tế, Việt Nam cũng chỉ quay lại với những cơ cấu kinh tế kiểu cũ. Có nhiều dự đoán cho thấy nền kinh tế hiện nay đã tăng trưởng gần đến mức bão hòa khi dựa vào những nguồn lực sẵn có về công nghệ, nguồn nhân lực rẻ và tài nguyên. Nếu không có một chính sách đầu tư về nguồn nhân lực, có nhiều khả năng Việt Nam sẽ chỉ loay hoay với mô hình kinh tế kiểu cũ và rơi vào bẫy thu nhập trung bình.

Câu hỏi đặt ra là bắt đầu những cải cách về chính sách đầu tư nguồn nhân lực như thế nào. Đây là một câu hỏi liên quan đến giáo dục và cơ chế. Dưới đây là một vài điểm chính mà chính sách giáo dục có thể thực hiện ngay nhằm vực dậy nền khoa học và giáo dục.

  1. Tăng mức lương cơ bản

Chất lượng giảng viên đại học hiện nay rất kém. Với một mức lương cơ bản dưới 5 triệu đồng hàng tháng, so với thời giá hiện đại, một giảng viên khó mà sống nổi với nghề nếu họ không “chạy sô” đi dạy thêm trường khác. Tuy vậy, không phải giảng viên nào cũng kiếm được sô để dạy thêm. Vào cơ hữu ở đại học lúc này giống như có một chân ở đại học và người giảng viên dùng cái uy tín để đi kiếm tiền thêm nơi khác. Động lực để nghiên cứu và cải thiện đóng góp chương trình dạy và học không có. Ngoại trừ những giảng viên thâm niêm có vị trí cao nhận được những lớp dạy với mức thù lao hậu hĩnh, mức thu nhập cho giảng viên mới vào quá thấp.

Khi mức lương cơ bản trả cho một thạc sỹ để làm giảng viên ở trường đại học chưa tới 5 triệu đồng / tháng, khó có thể giữ chân những giảng viên ưu tú khi mức lương ở ngoài thị trường hấp dẫn hơn nhiều. Kết quả là chỉ còn những giảng viên ở lại với mục đích kiếm một suất học bổng đi du học, hoặc kiếm thêm sô đi dạy, hoặc cảm thấy ít có khả năng cạnh tranh ở ngoài và muốn an phận. Những sinh viên ưu tú không muốn dấn thân vào con đường khoa học và giảng dạy.

Tuy vậy, không phải là trường không có tiền để trả lương giảng viên, mà thực chất là có những khoản tiền bị “thất thoát”. Lấy ví dụ, mức lương thỉnh giảng mà một giảng viên được nhận cho một lớp đại học công lập là khoảng 120 ngàn đồng / tiết. Mức lương trung bình theo tiết trả cho giảng viên cơ hữu còn rẻ hơn nhiều nữa. Một lớp khoảng 100 sinh viên, vị chi một sinh viên trả 1,2 ngàn đồng / tiết. Một môn học trung bình khoảng 50 tiết, mỗi sinh viên trả khoảng 60 ngàn đồng tiền giảng cho một môn học. Nếu một năm học gồm hai học kì có tổng cộng 15 môn, số tiền phải trả cho giảng viên thỉnh giảng là 900 ngàn đồng/ sinh viên. Nếu giả sử các chi phí về điện, nước, hành chính liên quan bằng số tiền trả cho giảng viên thỉnh giảng thì tổng mức chi phí cho một sinh viên trong 2 năm học chưa tới 2 triệu đồng/sinh viên. Với mức học phí mỗi học kì trung bình 5 triệu đồng như hiện nay, nhà trường có thể “bỏ túi” ít nhất khoảng 8 triệu đồng/sinh viên/năm học. Trên đây là con số với giả sử trả cho giảng viên thỉnh giảng và ở trường công với mức học phí ưu đãi, nếu các trường chỉ bao gồm giảng viên cơ hữu, mức chi trả lương cho giảng viên có thể thấp đi tới một nữa, hoặc ở các trường dân lập, mức học phí tăng cao hơn, và do đó lợi nhuận từ học phí cao hơn con số 8 triệu đồng / sinh viên / năm nhiều. Với một ngôi trường có khoảng 10 nghìn sinh viên, mỗi năm trường thu nhập ít nhất 80 tỉ trước thuế, chưa kể các khoản đóng góp, hợp tác, hỗ trợ khác. Chính vì lợi nhuận khổng lồ đó, hàng loạt trường đại học đã được mở ra chỉ trong một khoản thời gian ngắn.

Việc quy định mức lương cơ bản cho các giảng viên trẻ, ít nhất là bằng mức lương mà họ có thể kiếm được ở ngoài, là cần thiết. Việc tăng mức lương cơ bản còn giúp tôn vinh vị trí giảng viên và tạo động lực thu hút những sinh viên ưu tú tham gia vào hoạt động giáo dục.

Bên cạnh đó, các mức thưởng nên căn cứ vào thành tích nghiên cứu khoa học của các giảng viên nhằm khích lệ tinh thần nghiên cứu khoa học cũng như cung cấp thêm thu nhập cho giảng viên.

  1. Rà soát và cải tạo các chương trình đào tạo tiến sỹ

Các chương trình đào tạo tiến sỹ nhằm đào tạo ra đội ngũ nghiên cứu khoa học cho đất nước, thay vì cấp các tấm bằng giúp cho việc thăng tiến trong hành chính sự nghiệp. Trong một thời gian dài, việc buông lỏng quản lý các chương trình này đã tạo ra những thế hệ tiến sỹ trình độ kém, không có khả năng nghiên cứu khoa học. Những vị này sau khi nhận bằng lại quay ra nắm giữ những vị trí lãnh đạo trọng trách trong giáo dục, đào tạo và nhiều lĩnh vực khác đã khiến nền giáo dục và khoa học ngày càng đi xuống.

Việc rà soát lại các chương trình đào tạo tiến sỹ của các trường đại học nhằm đảm bảo chỉ có những chương trình đào tạo có chất lượng mới được thực hiện.

Trước mắt nên đặt mục tiêu các nghiên cứu sinh tiến sỹ của Việt Nam khi bảo vệ luận văn phải có trình độ tương đương với các nước trong khu vực. Để làm được điều này, Bộ Giáo Dục nên có quy định hội đồng bảo vệ luận văn tiến sỹ có ít nhất một giám khảo đến từ một trường đại học có uy tín nước ngoài.

Thực hiện quy định này rất khó khăn trong điều kiện hiện nay, nhưng không phải là không thể. Thay vì mỗi trường có một chương trình đào tạo tiến sỹ riêng, Bộ Giáo Dục nên đứng ra hỗ trợ các trường trong một khu vực hợp tác tổ chức một trung tâm chung đào tạo các chương trình sau đại học, một kiểu graduate school ở các nước phương Tây. Các giáo sư là các giảng viên ưu tú từ các trường này. Các trung tâm này được cấp kinh phí nghiên cứu và khuyến khích sự hợp tác với các giáo sư người Việt ở nước ngoài trong việc hỗ trợ và hướng dẫn nghiên cứu sinh.

Bộ Giáo Dục nên ra một quy định là miễn phí chương trình học nghiên cứu sinh và chỉ những nghiên cứu sinh bằng cách này hay cách khác nhận được nguồn tài chính để theo học các chương trình tiến sỹ mới được nhập học. Nên có một quỹ học bổng đài thọ cho các nghiên cứu sinh ưu tú chi phí sinh hoạt bên cạnh quy định miễn học phí.

  1. Lọc chất lượng giảng viên

Tăng mức lương cơ bản chỉ giúp tạo một động lực hấp dẫn những sinh viên ưu tú quan tâm và dấn thân vào khoa học và giáo dục. Nó là điều kiện cần để ngành giáo dục và đào tạo có thể phát triển.

Ở Việt Nam, các trường đại học, chủ yếu là công lập, còn đối diện với một thực tế là họ đã đủ chỉ tiêu giảng viên, không thể tuyển thêm giảng viên trẻ, nhưng lực lượng giảng viên hiện có đa số rất thụ động không muốn dấn thân nghiên cứu hay cải thiện việc giảng dạy. Việc tăng lương do đó không thể giải quyết được vấn đề cải thiện chất lượng giáo dục trong trường hợp này. Một giải pháp khác là lọc giảng viên thông qua chất lượng nghiên cứu khoa học. Bộ Giáo Dục nên ra quy định là các giảng viên cơ hữu muốn duy trì vị trí phải có ít nhất ba bài báo trên các tạp chí quốc tế hoặc đã bảo vệ luận văn tiến sỹ ở một trường có uy tín ở nước ngoài. Việc đưa ra một quy định như vậy nên có một lộ trình để thực hiện, thời gian hợp lý khoảng 5 năm kể từ ngày đưa ra quy định. 5 năm cũng là một khoảng thời gian đủ để một nghiên cứu sinh hoàn thành luận án tiến sỹ.
Sau 5 năm, nếu những giảng viên cơ hữu hiện thời không hoàn thành quy định sẽ bị cắt hợp đồng.

Trong những trường hợp các vị trí giảng viên tại các trường đại học công lập có được là do sự đút lót thay vì trình độ và khả năng nghiên cứu khoa học, việc đưa ra một quy định lọc chất lượng giảng viên như vậy cũng sẽ tự động giúp loại bỏ đi những giảng viên yếu kém.

  1. Sửa lại chính sách cấp học bổng đào tạo tiến sỹ

Các chương trình như 322, 911 chủ yếu cấp học bổng cho cán bộ, giảng viên của các trường đại học nhằm hoàn thiện chương trình tiến sỹ ở nước ngoài và về nước công tác.

Mục tiêu rất tốt đẹp, tuy nhiên các chương trình này thực sự không hiệu quả.

Như đã phân tích ở trên, với chế độ đãi ngộ quá thấp như hiện nay, lực lượng giảng viên trẻ cơ hữu còn giữ lại ở các trường đại học không phải là lớp sinh viên ưu tú nhất, nếu không nói là chỉ hạng khá. Lớp sinh viên ưu tú nhất không kham chịu nổi các khó khăn về tài chính đã ra ngoài làm cho các công ty.

Chính sách cấp học bổng ưu đãi cho cán bộ công nhân viên trong trường hợp này giống như là phần thưởng cho những đóng góp với mức lương rẻ mạt của họ cho nền giáo dục. Những cán bộ, giảng viên này sau khi cố gắng học xong các chương trình tiến sỹ bắt buộc quay về nước phục vụ trở lại cho giáo dục. Với năng lực chỉ ở hạng khá, các nghiên cứu khoa học của họ nếu có cũng chỉ ở mức bình bình. Thêm nữa, việc phải chấp nhận một mức lương thấp đồng nghĩa với việc họ không có động lực đóng góp vào giáo dục và nghiên cứu khoa học. Nếu có tham gia vào giáo dục, họ cũng sẽ cố gắng kiếm một vị trí tốt về mặt hành chính để từ đó có thể thông qua các dự án hay dạy thêm để kiếm thêm thu nhập. Ở đây, tấm bằng tiến sỹ chỉ còn có mục đích thăng tiến vị trí hành chính thay vì nó là khởi đầu của một sự nghiệp khoa học.

Chính sách cấp học bổng của Bộ Giáo Dục do đó cần sửa lại theo hướng khuyến khích động cơ của người học và đóng góp vào sự nghiệp giáo dục. Trước tiên, chính sách cấp học bổng nên mở và xét chung cho cả các đối tượng đang làm việc ở các khu vực ngoài giáo dục với điều kiện các đối tượng này sau khi nhận học bổng sẽ phải làm việc cho một tổ chức giáo dục hay khoa học của Việt Nam trong một thời gian như trong hợp đồng. Làm như vậy sẽ thu hút được lớp sinh viên ưu tú nhất vốn đã ra ngoài làm việc.

Quá trình xét cấp học bổng nên được thực hiện một cách công bằng dựa vào trình độ học vấn và khả năng theo đuổi chương trình tiến sỹ. Tuy nhiên, nếu cả hai thí sinh đều như nhau, lẽ dĩ nhiên nên ưu tiên các cán bộ giảng viên trẻ có kinh nghiệm nghiên cứu giảng dạy và đóng góp vào sự nghiệp giáo dục.

Khi các nghiên cứu sinh đã hoàn tất quá trình học và quay về nước, trường đại học nên cung cấp một cơ chế ưu đãi về lương bổng và chế độ làm việc. Mức đãi ngộ này ít nhất phải tương đương với mức thu nhập mà họ có thể kiếm được bên ngoài.

Có như vậy ngành giáo dục mới có thể thu hút được những sinh viên ưu tú nhất của quốc gia sẵn lòng nghiên cứu khoa học và nhiệt tình đóng góp vào sự nghiệp khoa học và giáo dục cho đất nước.

Bộ Giáo Dục nên dành hẳn một phần trên trang web của mình liệt kê các loại học bổng, chỉ tiêu hàng năm, cách thức nộp đơn, điều kiện. Nên cho phép nộp đơn online trực tiếp và công khai người nhận học bổng và người nộp đơn trên mạng.  Điều này cũng giúp giảm đi những tiêu cực trong quá trình xét duyệt.

  1. Sắp xếp lại ban quản trị trường đại học

Cơ chế tự chủ trường đại học đã được bàn nhiều. Các mô hình cũng có rất nhiều. Tuy vậy, nhìn chung ban quản trị các trường đại học bao gồm một ủy ban với một người đứng đầu được tuyển chọn bởi chính một ủy ban từ trường đại học hoặc một ủy ban giáo dục bên ngoài thường là từ Bộ Giáo Dục. Ban quản trị của trường đại học chịu trách nhiệm bổ nhiệm nhân sự, giáo sư, quản trị tài chính, được quyền tự thiết kế chương trình học và định hướng của ngôi trường.

Trong trường hợp của Việt Nam, một ủy ban bổ nhiệm ban quản trị của một trường đại học nên do Bộ Giáo Dục chủ trì. Cơ chế tự chủ với một ban quản trị có viễn kiến sẽ giúp cho trường đại học nhanh chóng chuyển đổi phương thức dạy, học và nghiên cứu của mình.

  1. Đào tạo kỹ năng học suốt đời

Một trong những kỹ năng để tồn tại và phát triển đối với bất kì một chuyên gia nào trong thời đại hiện nay là khả năng tự học suốt đời.

Tự biết mình là các nước nhỏ (về dân số, Đan Mạch: 5,5 triệu, Nauy: 5 triệu , Thụy Điển: 9,4 triệu, Phần Lan: 5,4 triệu) và dùng ngôn ngữ đặc trưng, khả năng tồn tại và phát triển do đó chủ yếu dựa vào ngoại thương với các nước khác và nền tri thức cũng phải phụ thuộc vào các nước lớn hơn, các nước Bắc Âu (Đan Mạch, Nauy, Thụy Điển, Phần Lan) đã đưa “kỹ năng học suốt đời” thành một chính sách giáo dục của mình.

Chính sách này nhấn mạnh việc đào tạo những sinh viên có khả năng tự học, tự nắm bắt những kiến thức, kỹ thuật mới. Một mục tiêu ban đầu quan trọng là trang bị cho sinh viên khả năng ngoại ngữ, chủ yếu là tiếng Anh, nhằm nắm bắt trực tiếp kiến thức khoa học thế giới. Ngày nay, rất dễ dàng bắt gặp một sinh viên nói tiếng Anh lưu loát như người bản địa ở các nước Bắc Âu hơn tại bất cứ quốc gia nào không dùng tiếng Anh. Ngoài việc trang bị khả năng Anh ngữ cho giáo viên, cải thiện chương trình học, các chương trình tivi bằng tiếng Anh cũng giúp cho sinh viên làm quen với tiếng Anh từ rất sớm. Từ bậc cao học trở lên, các chương trình chủ yếu bằng tiếng Anh.

May mắn là gần đây các chương trình truyền hình cáp của Việt Nam bắt đầu có nhiều chương trình bằng tiếng Anh giúp thế hệ trẻ quen dần với ngôn ngữ quốc tế này. Tuy vậy, có nhiều điều cần làm để thực hiện chính sách “đào tạo kỹ năng học suốt đời” cho học sinh, sinh viên.

Một việc có thể thực hiện được là bắt buộc các chương trình từ cao học trở lên thực hiện tại các trung tâm đào tạo sau đại học phải được trực tiếp giảng dạy và nghiên cứu bằng tiếng Anh.

Bên cạnh đó, nâng cấp các chương trình đào tạo Anh ngữ tại các trường đại học và bắt buộc sinh viên dùng các giáo trình tham khảo bằng Anh ngữ khi thực hiện giảng dạy và nghiên cứu.

Các chương trình học hiện nay dành cho bậc đại học là quá dài: trung bình 4 năm cho khối ngành kinh tế và 4.5 - 5 năm cho khối ngành kỹ thuật. Nên rút lại còn 3 năm cho khối ngành kinh tế và 4 năm cho khối ngành kỹ thuật, bên cạnh đó kèm thêm các chương trình tiếng Anh thực tế hơn.

“Kỹ năng học suốt đời” nên được trang bị cho trẻ từ khi mới chào đời. Ở Phần Lan, khi mang thai, bố mẹ được tặng 3 cuốn sách. Một cho bố, một cho mẹ và một cho đứa trẻ mới chào đời. Sách cho bố và mẹ hướng dẫn cách chăm sóc con. Sách cho trẻ kích thích và giúp trẻ làm quen với việc đọc sách ngay từ bé. Khả năng đọc sách, tìm tòi nghiên cứu được làm quen từ bé giúp trẻ sớm phát triển khả năng sáng tạo và tự học khi lớn lên.

Bộ Giáo Dục cũng nên có chính sách định hướng và khuyến khích việc đọc sách của trẻ em, cũng như khuyến khích việc xây dựng thêm các thư viện trung tâm ở các huyện, xã.

***

Cải cách giáo dục là một quá trình lâu dài với rất nhiều lĩnh vực đòi hỏi phải cải tổ. Trên đây chỉ là vài ý, và danh sách trên chắc chắn không hoàn hảo. Có nhiều vấn đề cần phải bàn thêm về giáo dục tiểu học, trung học,... Những ý kiến trên mục tiêu chỉ nhắm chủ yếu đến đào tạo bậc đại học và sau đại học, vì đây là giai đoạn quan trọng đào tạo những kĩ năng cần thiết cho các chuyên gia đầu ngành, giảng viên của các trường đại học. Đây là lực lượng có tác động rất lớn đến sự thay đổi của giáo dục và hình thành nên bộ mặt khoa học công nghệ của một quốc gia. Sự thay đổi về chất và lượng của lực lượng này sẽ ảnh hưởng sâu sắc lên cách thực hiện chính sách giáo dục. Có thể nói cách thay đổi như vậy là cách thay đổi từ trên xuống.

Sự phát triển của một quốc gia phải được nâng đỡ bởi chính nội lực của nó. Nội lực ở đây là trình độ giáo dục, khoa học và công nghệ. Không có một quốc gia phát triển nào mà không có một hệ thống giáo dục khoa học tiên tiến. Cũng như, không có một quốc gia nào có một hệ thống giáo dục khoa học tiên tiến mà không phát triển.

Những cố gắng cải thiện chính sách kinh tế trong ngắn hạn nên được đi kèm với những hỗ trợ và cải cách về giáo dục mạnh mẽ hơn. Có như vậy nền kinh tế mới có những bước nhảy vọt lên một ví trí cao hơn.

Lẽ dĩ nhiên, khi thực hiện những cải cách như trên sẽ gặp phải rất nhiều chống đối từ những người đang hưởng lợi từ việc duy trì tình trạng hiện có của hệ thống. Đó là những giảng viên không muốn nỗ lực nghiên cứu khoa học, những nhà quản trị đại học trình độ kém, và những cá nhân hưởng lợi khác. Việc thực hiện những cải cách như vậy do đó phải phát xuất từ một quyết tâm chính trị. Ở đây, vai trò của các chính trị gia quyết định. 

Nguyễn Huy Vũ
21/06/2012

14.4.12

Nghiên cứu ở Việt Nam

Hồi còn ở VN, lúc còn học ở trường Khoa Học Tự Nhiên, Tp. Hồ Chí Minh, có hội thi thả trứng không bể. Thả quả trứng từ tầng 4 của tòa nhà sao cho quả trứng không bể. Quả trứng bị bể coi như thua. Suy nghĩ cách nào thả quả trứng mà không bể. Một chiều đi học về lang thang, suy nghĩ, chợt thấy trái dầu bay từ từ xoay tít trong gió nhờ 2 chiếc lá như cánh quạt giảm tốc độ. Về nhà làm một một khung bằng thép nhỏ, có 2 cánh quạt chăng bằng bọc nylon, đo cánh mọi thứ, rồi bỏ quả trứng vào, thả thử, trứng không bể. Yên tâm đi thi. Ngày thi, thấy các "cao thủ" rất đông. Sử dụng đủ các "chiêu thức". Kẻ thì làm mô hình trái bóng bằng nước, trong để quả trứng bên trong. Người thì dùng "tên lửa" bên trong để quả trứng. 1, 2, 3 từ từ thả mô hình. Thả từ tầng 4 xuống và đứng quan sát. Trứng vỡ hết. Riêng mô hình của tôi hình quả dầu với 2 cánh bay nhẹ nhẹ, chầm chậm xuống, tiếp đất an toàn và quả trứng không bể. Thắng giải nhất, được đâu 100 ngàn. Dẫn mấy đứa bạn đi ăn kem. Hết. Đối với nhiều người lúc bấy giờ, nghiên cứu hay phát triển ở VN là một cái gì đó kiểu ... vui chơi. Thừa tiền, rỗi sức. Bởi suy nghĩ đơn giản là nghiên cứu không tạo ra tiền. Họ có thể suy nghĩ và thầm khâm phục người phương Tây về khả năng và sự đam mê nghiên cứu, nhưng đối với họ nghiên cứu là một cái gì rất cao xa và ... không cần thiết, nhất là ở VN. Mua công nghệ về làm, mua bộ phận về lắp ráp, hoặc mua hàng hóa đã làm sẵn (từ Trung Quốc, Hàn Quốc, hoặc vài nước khác) về bán dễ sinh lợi hơn.

Mười năm sau về lại. Tôi vẫn chưa thấy sự thay đổi trong suy nghĩ của nhiều người ở VN. Ở ngay chính những người đã tốt nghiệp ra trường đại học và đi làm. Nghiên cứu không cần thiết, nghiên cứu một cách cơ bản, sâu sắc lại càng không; và người châu Âu cái gì cũng thích nghiên cứu. Đúng.

Hàng ngày chúng ta xem những kênh Geographic Channel, mới khâm phục lòng kiên trì và đam mê nghiên cứu của họ. Họ có thể dành 30 năm chỉ để nghiên cứu con tàu Titanic tại sao bị chìm và chìm như thế nào. Mà đôi khi chúng ta chỉ mất 30 phút để xem kết luận của họ. Họ dành cả cuộc đời chỉ để nghiên cứu chất phóng xạ, mà cuối cùng chúng ta chỉ có thể học nó mất 10 phút với 2 dòng công thức. Và còn nhiều nhiều nữa những ví dụ xung quanh. Nếu không có những nghiên cứu như vậy, sự hiểu biết của xã hội chỉ có thể bước những bước rất ngắn. Gần hơn, nếu không có những nghiên cứu đàng hoàng về công nghệ mobiphone thì Việt Nam cũng chỉ dừng lại là một nước tiêu dùng.

Khi mà những lực lượng làm công việc trí óc có thể tạm gọi là tấng lớp ưu tú của xã hội còn nghĩ rằng nghiên cứu và phát triển là những thứ xa xỉ của Việt Nam. Thì mãi mãi Việt Nam chỉ có thể dừng chân là một nơi lắp ráp và là nhà máy sản xuất các bộ phận giản đơn của nhân loại.

Một điều ngạc nhiên nữa khi về Việt Nam, đó là sinh viên ngành ngân hàng không được học gì về kinh tế vi mô và vĩ mô một cách nghiêm túc. Kinh tế lượng (econometrics) lại càng không. Có cảm giác là những sinh viên ngành ngân hàng chỉ được đào tạo nghiệp vụ thực hiện các giao dịch cơ bản của ngân hàng thay vì là một chuyên viên kinh tế tài chính một cách nghiêm túc. Một ví dụ về cách ăn xổi ở thì của giáo dục.

Dĩ nhiên, nghiên cứu đòi hỏi những kinh phí rất lớn mà chỉ có nhà nước thông qua các viện và trường đại học hoặc những công ty lớn có thể đảm đương nổi. Nhưng trước hết đó là sự thay đổi tư duy và triết lý phát triển của toàn xã hội, bắt đầu bởi những nhóm người được gọi là có học thức nhất của xã hội. Cũng giống như một người đi đường đang cầm bản đồ, anh ta phải quyết định một hướng đi rõ ràng trước khi bắt đầu một cuộc hành trình dài và khó khăn. Hoặc là anh ta đến đích thành công hoặc là anh ta chỉ lẩn quẩn xung quanh.

13.3.12

Trung Quốc với châu Phi: Dầu Mỏ và Kinh Tế

"Bài viết trình bày những nét chính trong chính sách và mối
quan hệ của TQ với các nước châu Phi, mối quan hệ mà ở đó Trung
Quốc sử dụng uyển chuyển quyền lực của đồng tiền và ngoại giao mềm
dẻo nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế và chính trị của mình. Về kinh
tế, Trung Quốc “biến”châu Phi thành nguồn cung cấp dầu mỏ và các
nguồn nguyên liệu thô khác, đồng thời là thị trường cho hàng hóa của
Trung Quốc. Về chính trị, Trung Quốc “lôi kéo”và xây dựng mối quan
hệ với các nước châu Phi nhằm có được sự ủng hộ chính trị trên các diễn
đàn thế giới trong một kế họach nhằm khẳng định mình như một siêu
cường kinh tế và chính trị." - tác giả: Nguyễn Huy Vũ & Nguyễn Minh Thọ

Bài được đăng tại Tạp Chí Thời Đại Mới: www.tapchithoidai.org

Đọc toàn bài, tải về tại đây

3.10.10

Bà Kha Ngọc Chi, vợ ông Lý Quang Diệu


“Phía sau sự thành công của người đàn ông luôn có bóng dáng của người phụ nữ”. Người phụ nữ bên cạnh người đàn ông có vai trò như một người bạn, người cố vấn, động viên, chia sẻ và phản biện những hướng đi của chồng. Hiếm có ai thành công mà không có một cố vấn giỏi. Ông Lý Quang Diệu cũng là một trường hợp như vậy (nhưng rất may, ông có nhiều cố vấn giỏi, mà một trong số đó là một kinh tế gia từ Hà Lan).

Đọc “Hồi ký Lý Quang Diệu” mới thấy được những tình cảm và chia sẻ mà vợ ông, bà Kha Ngọc Chi, gắn bó với ông từ những ngày còn học trung học ở Singapore cho tới những ngày qua Luân Đôn học Luật, sau đó trở về Singapore, thành lập đảng chính trị PAP, đấu tranh chính trị, độc lập Singapore và xây dựng đất nước. Có xem lại những biến cố trải qua như vậy mới thấy được vai trò của bà. Một người phụ nữ thầm lặng, nghiêm khắc, và thông minh. Một chi tiết rất thú vị là phụ nữ thường mắc tật nhớ dai, và bà Lý cũng không phải là ngoại lệ. Bà luôn phàn nàn ông rằng không cho bà tham gia lễ thành lập đảng PAP – Đảng Nhân Dân Hành Động của Singapore, vốn cầm quyền từ ngày thành lập nước. Sự gắn bó đó kéo dài cho tới ngày bà mất, hôm qua lúc 5h40 chiều. Bà bị đột quỵ, nằm liệt giường từ hai năm và cứ mỗi tối ông Lý nằm kế bên đọc thơ, kể chuyện công việc hằng ngày của ông cho bà nghe.

Bà Lý hơn ông Lý 2 tuổi. Khi còn học trung học, ông Lý Quang Diệu vốn biết bà Kha Ngọc Chi qua thành tích học hành. Ông đứng đầu đầu trường môn Toán nhưng trung bình thì đứng hai. Bà Kha Ngọc Chi đứng nhì điểm Toán nhưng điểm trung bình thì đứng nhất. Ông Lý Quang Diệu biết tên chứ chưa biết mặt. Ông Lý Quang Diệu có một anh bạn, và anh này lại là anh trai của bà Kha Ngọc Chi. Xã hội Singapore vào giữa đầu thế kỷ 20 là một bức tranh tối sáng với nhiều cơ hội kinh doanh. Ông Lý Quang Diệu hợp tác với anh bạn để làm keo hồ đem bán cho các tiệm tạp hóa. Một lần ông Lý Quang Diệu đến nhà anh bạn làm keo hồ và lần đầu tiên gặp mặt bà Kha Ngọc Chi. Mối tình cứ thế đơm hoa. Ông Lý Quang Diệu cũng thuộc dạng chịu chơi. Khi mà xã hội Singapore lúc bấy giờ người dân hoặc đi ô tô, hoặc đi xích-lô, ông lại thường xuyên cỡi mô-tô. Một hôm ông chở bà đi bằng mô-tô về nhà. Ông nhạc phụ tương lai, vốn là một banker, nhìn thấy sửng sốt.

Tốt nghiệp trung học, gia đình khá giả, ông qua Cambridge du học trước, năm sau bà Kha Ngọc Chi nhận học bổng và qua sau. Cả hai đều chọn luật. Sau khi tốt nghiệp, hai ông bà trở về Singapore và hành nghề luật gia. Một chi tiết rất đặc biệt trong mối quan hệ của hai người là ông với bà Kha Ngọc Chi đính hôn trong một nhà hàng nhỏ chỉ có hai người khi còn ở Luân Đôn. Buổi lễ, gọi là một buổi tiệc nhỏ thì đúng hơn, chỉ có nến và hai người giao ước với nhau. Khi về Singapore, ông đến nhà bà Kha Ngọc Chi gặp ba bà Kha Ngọc Chi và xin cưới con gái của ông. Ông nhạc phụ được một phen sửng sốt thứ hai. (Tưởng tượng cảnh một thằng nào đó lạ huơ lạ hoắc tự dưng vác thân tới đòi cưới con gái mình mà mình không biết gì nhiều về nó trong một xã hội những năm giữa thế kỉ 20.)

Sau Chiến tranh Thế giới Thứ II, tình hình thế giới biến chuyển dồn dập và Singapore cũng không phải ngoại lệ. Nhất là khi ông cùng các đồng chí tham gia thành lập đảng chính trị PAP. Giữa những lúc tình hình căng thẳng nhất, ông thường lái xe đưa vợ con lên cao nguyên Cameroon ở Malaysia để nghỉ ngơi và cũng để tránh những tai tiếng, ảnh hưởng chính trị. Với khí hậu mát, cao nguyên Cameroon như một “Đà Lạt” của Việt Nam, nổi tiếng với món lẩu chay – lẩu chỉ toàn các loại rau.

Đọc Hồi ký để thấy giữa những biến chuyến dồn dập, những áp lực, khó khăn. Những quyết định không những ảnh hưởng tới an nguy của chính mình mà còn cho cả một xã hội. Vai trò của bà Lý thâm trầm nhưng rất uy lực. Bà là điểm tựa, là cố vấn, là người bạn chung thủy của ông. Một điểm đáng nhớ nữa là khi Singapore tách ra khỏi liên bang Malaysia, chính bà là người ngồi tra cứu trong thư viện về hồ sơ một trường hợp tương tự đã xảy ra trước đây nhằm dùng làm cứ tích cho việc soạn thảo ra một văn bản luật cho việc chia tách.

New York Times gọi ông Lý Quang Diệu là “the man who defined Singapore”- tạm dịch là “người kiến tạo nên Singapore”. Ông đã thành công trong kiến tạo nên một Singapore xanh, sạch, luật lệ, an ninh, giáo dục tốt. Dĩ nhiên, còn rất nhiều điều cần làm đối với Singapore, chẳng hạn chỉ số innovation index (chỉ số sáng tạo chưa cao khi so với các nước cùng thu nhập), chưa có hệ thống an sinh xã hội tốt, không phải welfare state… Xem kết quả để đánh giá thành công và không ai phủ nhận ông Lý Quang Diệu là một chính trị gia thành công và có nhiều ảnh hưởng. (Cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt cũng nhờ ông cố vấn kinh tế.)

Rất ít bài báo nhắc đến vai trò của bà Lý, nhưng tôi nghĩ vai trò của bà cũng lớn không kém. Nếu ông Lý là “the man who defined Singapore” thì bà Lý chí ít cũng là “the woman who stood with Singapore” -- người đứng cùng Singapore. Chào vĩnh biệt bà.

NHV, 03.10.2010

(*) Muốn tìm hiểu thêm, xin mời đọc: PAP và Chính Trị Singapore

22.8.10

Điều gì kiến tạo nên phát triển ?

The Economist vừa đăng bài viết về hai đại cường của châu Á: Trung Quốc và Ấn Độ. Cả hai nước cùng có đặc điểm chung là đông dân và đang phát triển, mặc dù Trung Quốc vượt Nhật tháng rồi để trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, sau Mỹ. Ấn Độ phát triển cũng khá nhanh, nhưng chậm hơn Trung Quốc. Khác biệt lớn nhất giữa hai nước là Ấn Độ là nước dân chủ, Trung Quốc là nước cộng sản, độc đảng (mặc dù vẫn có vài đảng ”bù nhìn” khác). Trong mắt Trung Quốc, Ấn Độ là một nền dân chủ khinh bỉ. Điều đó không có gì ngạc nhiên, Ấn Độ với một nền dân chủ chưa hoàn thiện và có một tốc độ tăng trưởng chậm hơn Trung Quốc trở thành một lập luận phản biện cho sự cần thiết của dân chủ, nhất là khi tăng trưởng được dùng như một thước đo chủ yếu để đánh giá mức độ phát triển của một đất nước. Cách đây khá lâu, khi trao đổi, tôi cũng nhận được một câu hỏi tương tự, nhằm giải thích tại sao Ấn Độ với một nền dân chủ lại tăng trưởng kinh tế chậm hơn Trung Quốc và dân chủ có ích lợi cho đất nước hay không, nhất là khi dân trí còn thấp.

Câu hỏi dân chủ trước đem lại phát triển hay phát triển lên một bậc nào đó thì sẽ có dân chủ. Câu hỏi này nó giống như câu chuyện (rất buồn cười) là con gà hay cái trứng: con gà trước hay cái trứng có trước. Câu trả lời của tôi (nói vui) là: xin thưa, nếu ai cho tôi chọn một trong hai thì dĩ nhiên tôi chọn con gà.

Trở lại câu hỏi trên, khó có một câu trả lời thuyết phục bằng thực nghiệm, vì chúng ta không có cơ hội để thực nghiệm trên một đất nước trong một khoảng thời gian ở hai thời điểm giống nhau. Vậy điều gì làm nên sự phát triển của một đất nước ? chế độ chính trị, văn hóa, cấu trúc xã hội, trình độ khoa học kỹ thuật, khả năng lãnh đạo, tài nguyên thiên nhiên, …

Có muôn vàn lý do và lí do nào cũng có một phần đúng của nó. Vài lý thuyết cho rằng các dân tộc không có may mắn sở hữu nhiều tài nguyên thiên nhiên phải cố gắng sinh tồn bằng cách phát triển hơn các dân tộc bình thường khác, như Nhật. Trong khi các dân tộc sở hữu nhiều tài nguyên thiên nhiên thì dựa vào tài nguyên sinh sống, nói nôm na là ”bán máu kiếm tiền”, và họ đôi khi rất giàu nhưng lại không phát triển, như các nước Trung Đông nhiều dầu mỏ. Thế nhưng đem lập luận này cho các nước khác như Mỹ thì lý do đó không đúng. Mỹ sở hữu rất nhiều tài nguyên nhưng phát triển rất mạnh. Giải thích thế nào đây ?

Một số khác đem lập luận cơ chế chính trị. Một ví dụ rất điển hình là trường hợp của các nước công nghiệp mới ở Châu Á: Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore. Cả 3 nước đều có chung đặc điểm là độc tài và dùng hệ thống công chức theo kiểu kỹ trị của Tây Âu (technocracy, chứ không phải kiểu quản lý đảng đoàn cộng sản). Cho rằng một chế độ độc tài đem lại đất nước phát triển rất nhanh. Thế nhưng nếu cho rằng chế độ độc tài đem đất nước phát triển nhanh thì lại không giải thích được trường hợp cho các nước Nam Mỹ. Các nước Nam Mỹ lụn bại trong nghèo nàn cho đến khi các nước này từ bỏ chế độ độc tài. Vì sao ? Dân các nước Nam Mỹ dở hơn dân châu Á ? chưa chắc vì dân Nam Mỹ vốn là hậu duệ của di dân châu Âu. Ông Lý Quang Diệu, cựu thủ tướng của Singapore và ông Mahathir, cựu thủ tưởng, của Malaysia cho rằng dân chủ không phù hợp với các giá trị của dân châu Á. Hai ông đưa ra lập luận này vào đầu những năm 90 khi mà làn sóng dân chủ lan đến châu Á. Những lập luận này, do đó, chỉ đóng vai trò bảo vệ chế độ chính trị của hai nước và vị trí của hai ông. Những lập luận này trở nên trống rỗng khi quan sát Indonesia với hơn 300 triệu dân Hồi Giáo đang thực hiện một nền dân chủ ổn định: kinh tế phát triển tốt, tham nhũng giảm.

Vậy giải thích thế nào với sự phát triển ở 3 nước Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore. Muốn giải thích trước hết ta quay lại ở mức vi mô nhất, xem điều gì làm nên sự phát triển. Phát triển không chỉ là tăng trưởng kinh tế. Nó còn là khoa học, kĩ thuật, văn hóa, giáo dục, môi trường… những yếu tố mà không thể đo bằng những con số. Đó là sự đóng góp của những kĩ sư, nhà giáo, bác sỹ…những doanh nghiệp mở rộng công ty, những nhà khoa học có những thành công, những nhà hoạt động nghệ thuật tạo ra các tác phẩm giá trị...Để có được điều đó, các nhân tố này phải được kích thích và nuôi dưỡng để phát triển. Một cách may mắn là cả 3 nước này đều có một hệ thống kỹ trị tốt theo mô hình Tây Âu, và trong một thời gian dài họ phát triển giáo dục bằng cách gửi những sinh viên ưu tú nhất sang học ở các nước phương Tây. Về kinh tế, họ mở rộng và khuyến khích tư bản phát triển. Nếu hiểu theo một cách đừng đắn, sự phát triển này là do có được một chính sách tốt được thực hiện trong một thời gian dài. Chính sách tốt đó là phát triển giáo dục, học hỏi phương Tây và khuyến khích thương mãi. Hệ thống kĩ trị đóng góp vào sự phát triển dưới dạng giúp cho các chính sách được thực hiện đứng đắn và hiệu quả. Trong hệ thống kỹ trị chỉ có một vài vị lãnh đạo của một cơ quan lớn thuộc về đảng chính trị, các nhân viên còn lại không thuộc đảng phái nào; việc tuyển dụng theo hình thức công chức bình thường như trong các công ty. Do đó mà khi Đài Loan và Hàn Quốc chuyển sang chế độ dân chủ thì không có xáo trộn gì nhiều. Mặc hạn chế trong suốt thời kì độc tài của 3 nước này là văn hóa phát triển một cách èo uột; kinh tế phát triển dựa vào hoặc là của các công ty nhà nước như ở Đài Loan hay các tập đoàn gia đình dính dáng đến chính phủ của Hàn Quốc. Những công ty này lũng đoạn thị trường trong một thời gian dài và cho đến nay chi phối nền kinh tế. Tốt hay xấu ? Sự lũng đoạn của các công ty lớn về mặt nào đó đè bẹp các công ty nhỏ; các công ty lớn cũng ít ”sáng tạo” hơn. Tuy nhiên, thế mạnh của các công ty lớn là nguồn tài chính dồi dào để đầu tư cho các lĩnh vực nghiên cứu và phát triển. Trong một vài trường hợp họ thành công, như Samsung. Nhưng nếu để ý số charbol – những tập đoàn của Hàn Quốc – sau khủng hoảng tài chính 1997, hiện nay tồn tại chỉ đếm trên đầu bàn tay. Singapore cũng từng có những nỗ lực để xây dựng ngành công nghiệp điên tử. Một trong những hướng đi là mua lại một công ty sản xuất một bộ nhớ máy tính. Sau một vài năm, công ty lỗ vì không có khả năng sáng tạo. Các hãng của Mỹ sản xuất ra các sản phẩm với dung lượng lớn hơn và rẻ hơn. Chính phủ Singapore buộc phải bán lỗ nặng công ty. (Câu chuyện này làm tôi nhớ Vinashin). Vào khi mà nền công nghiệp chuyển sang hướng tri thức, sự sáng tạo đóng vai trò quyết định trong nền kinh tế. Sự sáng tạo chỉ có thể có được khi con người tự do. Nếu như trước kia, Hàn Quốc với Đài Loan chỉ phát triển những ngành công nghiệp nặng và thường phải mua (hoặc nếu mua không được thì ”chôm” như Samsung của Hàn Quốc), ngày nay nền kinh tế của họ bắt đầu trở nên sáng tạo. Singapore đầu tư khá nhiều vào giáo dục và nhân lực, nhưng nền công nghiệp trong nước phát triển chủ yếu dựa vào đầu tư nước ngoài.

Một câu chuyện khác. Trung Quốc là nước đầu tiên chế tạo ra thuốc súng và sử dụng la bàn. Họ cũng là những người tạo ra lịch rất chính xác, và quan sát thiên văn từ rất sớm. Nền văn minh của họ vượt rất xa châu Âu lúc này. Những thành tựu này có được khi Trung Quốc là một lục địa gồm nhiều nước. Thế nhưng sau đó, khi các nước nhỏ dần quy về một mối, sức sáng tạo giảm đi hẳn. Và châu Âu vượt qua rất nhanh. Vì sao ? Trong thời Trung Hoa lục địa, các nước chia năm sẻ bảy, các nước cạnh tranh với nhau. Khi một sáng kiến (cho dù kì quặc) nếu đem lại ích lợi cho một nước sẽ được nước ấy tôn trọng bất kể nước khác nghĩ gì. Một cá nhân xuất chúng nếu không được nước này trọng dụng sẽ đến nước khác. Khổng Tử không giúp được nước Tề thì sẽ qua Lỗ. Các sáng kiến do đó có cơ hội được thực hiện. Càng nhiều nước thì cơ hội một sáng kiến được áp dụng hay một nhân tài được tưởng thưởng càng lớn. Do đó mà giai đoạn ban đầu, Trung Quốc rất phát triển. Về sau, khi ”giang sơn thu về một mối” từ thời Tần Thủy Hoàng, ý kiến của vua là ”ý trời”. Vua không cho thì coi như sáng kiến không dùng được, thậm chí nguy hiểm đến tính mạng của người khởi xướng. Gặp ông vua minh mẫn thì nhờ, gặp ông vua hung bạo ”đốt sách, chôn Nho” như Tần Thủy Hoàng thì rủi. Trí thức sống trong lo âu. Sức sáng tạo trở nên thui chột.

Còn châu Âu ? Nhớ lại câu chuyện của Colombus khám phá châu Mỹ. Lúc đầu ông xin vua Bồ Đào Nha. Xin mấy lần không thành công. Sau ông quay qua vua Tây Ban Nha xin thì được hỗ trợ. Nếu giả sử châu Âu đều dưới quyền một vị vua, chẳng hạn, vua Bồ Đào Nha, thì sẽ còn rất lâu mới khám phá ra châu Mỹ. Sự tản quyền của châu Âu là một yếu tố rất lớn khuyến khích nên sự phát triển của châu lục này. Các vương quốc cạnh tranh nhau và cố gắng thu nhận mọi sáng kiến nhằm phát triển vương quốc của mình. Về mặt nào đó, dân chúng trở nên tự do hơn so với ở châu Á lúc bấy giờ. Nếu họ không thích nước này, dễ dàng qua nước khác sinh sống và đóng góp. Các sáng kiến nếu không được áp dụng ở thành phố này thì có thể sẽ được khuyến khích ở thành phố khác. Ý kiến và sáng kiến nảy nở. Điều này đóng góp nên sự phát triển vượt bực của châu Âu. Đặc biệt không những ở kĩ thuật mà nghệ thuật – lãnh vực đòi hỏi có một mức độ tự do cao để có được những cảm hứng.

Khi mà những nền kinh tế đang cạnh tranh nhau để vươn lên, và những con số kinh tế trở thành những tiêu chí duy nhất để so sánh, châu Âu ở một mặt nào đó vẫn cung cấp nhiều bài học cho phát triển. Phát triển đâu phải chỉ nằm ở những con số kinh tế, cân đo đong đếm. Nó còn nằm ở sự tôn trọng các giá trị văn minh của xã hội, mà ở đó có giá trị của mỗi cá nhân. Ngược lại, việc tôn trọng các giá trị cá nhân kích thích sáng tạo và đóng góp ngược trở lại quá trình phát triển. Tự Do vì thế là một yếu tố quan trọng then chốt. Nước Mỹ giàu mạnh cũng vì thế chứ chẳng phải vì giàu có tài nguyên.

NHV
Sthlm, 23.08.2010

14.7.10

Định Hướng Lạm Phát: Một Chính Sách Tiền Tệ Mới

Ngân Hàng Trung Ương (dưới tên gọi này hoặc khác ở các quốc gia khác nhau mặc dù chức năng tương tự nhau) là tổ chức được thành lập để thực hiện hai nhiệm vụ chính: thực hiện chính sách tiền tệ và duy trì ổn vững hệ thống tài chính của một quốc gia.

Suốt một thời gian dài trong lịch sử, các hoạt động của ngân hàng trung ương dường như nằm trong một vòng bí mật. Các chính sách, cơ chế, hay cung cách quản lý tiền tệ, tài chính được bàn bạc, dự đoán và đưa ra trong phạm vi của ngân hàng trung ương. Việc loan báo hay giải thích một vài các hành động mà ngân hàng thực hiện tới các cá thể trong nền kinh tế diễn ra theo một thời biểu không xác định trước, và thường ở vào những thời điểm cấp bách nhằm trấn an dư luận.

Định hướng lạm phát (inflation targeting) là một chiến lược về chính sách tiền tệ “mới”, bắt đầu được các ngân hàng trung ương áp dụng từ đầu thập niên 1990. New Zealand là nước đầu tiên áp dụng chiến lược chính sách tiền tệ này. Những kinh nghiệm của New Zealand khi thực hiện thành công trong việc bình ổn cả hai mục tiêu, lạm phát và nền kinh tế thật (real economy), đã trở thành bài học cho nhiều nước.

Trong suốt những năm của thập niên 1970 và nửa đầu thập niên 1980, nền kinh tế New Zealand chịu một mức lạm phát cao và thiếu ổn định. Chính sách tiền tệ sau đó được thắt chặt, lạm phát giảm. Năm 1989, một đạo luật về Ngân Hàng Dự Trữ (Reserve Bank Act) được đưa ra, mở đường cho một chiến lược chính sách tiền tệ mới: chính-sách-tiền-tệ-với-định-hướng-lạm-phát (CSTT-ĐHLP) ra đời và đi vào áp dụng kể từ năm 1990. Chính sách này thường đi kèm với các đặc điểm liên quan đến thể chế, bao gồm: i) sự ủy nhiệm chức năng bình ổn giá cả cho ngân hàng trung ương, (ii) vai trò độc lập của ngân hàng trung ương, và (iii) trách nhiệm giải trình của ngân hàng trung ương.

Cho tới nay, năm 2010, khoảng 29 nước, bao gồm cả các nền kinh tế phát triển cao và các nền kinh tế đang phát triển, đang thực hiện chiến lược chính sách tiền tệ này. Các nước trong khu vực Đông Nam Á đang theo đuổi chiến lược này bao gồm Thái Lan (bắt đầu từ năm 2000), Phi-lip-pin (từ năm 2002) và In-đô-nê-xi-a (từ năm 2005). Những quan sát cho thấy trong số các nước theo đuổi chiến lược này, chưa có nước nào từ bỏ hoặc tỏ ý hối tiếc sau khi đã áp dụng. Kinh nghiệm cũng cho thấy chiến lược này đã chứng tỏ sự uyển chuyển và khả năng phục hồi thành công đối với một loạt các cơn sốc và rối loạn kinh tế, kể cả cuộc khủng hoảng tài chính sâu rộng gần đây, ở các nước công nghiệp phát triển cao và ở cả những nền kinh tế đang lên.

CSTT-ĐHLP đặt nặng vai trò khả năng dự báo lạm phát và dựa trên ba điểm chính. i) Một mục tiêu lạm phát rõ ràng mà ngân hàng trung ương theo đuổi trong một khoảng thời gian nhất định. ii) Một chiến lược thực hiện mục tiêu lạm phát dựa trên các dự báo sao cho lạm phát nằm trong mục tiêu đã định hướng. iii) Một mức độ minh bạch (transparency) và trách nhiệm giải trình (accountability) cao.

Việc công bố các mục tiêu lạm phát đối với các ngân-hàng-trung-ương-có-định-hướng-lạm-phát (NHTW-ĐHLP) là một nhiệm vụ bắt buộc. Tùy thuộc vào ngân hàng mà mục tiêu này có thể là một con số hoặc là một khoảng. Ở các nền kinh tế phát triển, mục tiêu này khoảng 2%, trong khi ở các nền kinh tế đang phát triển, con số này lớn hơn khoảng vài phần trăm. Chẳng hạn, ở các nền kinh tế phát triển, mục tiêu lạm phát mà Ngân Hàng Trung Ương New Zealand theo đuổi là từ 1% đến 3%, của Ngân Hàng Trung Ương Thụy Điển và Ca-na-đa là 2% với 1% biên độ dao động được cho phép về hai phía, của Ngân Hàng Trung Ương Nauy là 2.5%, của Anh là 2%; ở Đông Nam Á, mục tiêu lạm phát cho năm 2010 của Thái Lan là 0.5% đến 3%, Phi-lip-pin là 4.5% với biên độ dao động ±1%, và In-đô-nê-xi-a là 5% với biên độ dao động ±1%. Tuy nhiên, sự khác biệt này không làm thay đổi cách các ngân hàng trung ương tiếp cận với mục tiêu lạm phát của mình. Nếu các ngân hàng trung ương chọn mục tiêu lạm phát là một khoảng, thường họ sẽ nhắm vào điểm giữa của khoảng; trong khi, nếu chọn mục tiêu lạm phát là một điểm, họ sẽ nhắm vào chính điểm mục tiêu lạm phát đó.

Chiến lược thực hiện mục tiêu lạm phát dựa trên các dự báo (inflation-forecast targeting) là một qui trình khá phức tạp. Tuy nhiên, về mặt cơ bản, qui trình này gồm một số bước như sau. Mỗi NHTW-ĐHLP đầu tiên sẽ xây dựng cho riêng mình một dự báo về lạm phát dựa trên các thông tin đạt được, gọi là mức-dự-báo-lạm-phát-có-điều-kiện, và dùng nó như một biến tham khảo trung gian. Một công cụ chính sách sau đó sẽ được chọn để tác động vào mức dự-báo-lạm-phát-có-điều-kiện này sao cho mức dự báo lạm phát sau khi bị tác động theo dự đoán sẽ rơi vào các mục tiêu lạm phát đã đề ra trước đó. Chính sách tiền tệ sau đó sẽ được thực thi dựa vào công cụ chính sách được chọn này và với sự tham khảo các thông tin khác có được trên thị trường. Khi thị trường xuất hiện các cơn sốc kinh tế, cách hữu hiệu mà các NHTW-ĐHLP xử lý là xem xét lại ảnh hưởng của các cơn sốc đó đến mức dự-báo-lạm-phát-có-điều-kiện đã được đưa ra trước đây như thế nào và từ đó có những thay đổi thích hợp về công cụ chính sách (nếu cần thiết) nhằm tác động để đưa mức dự-báo-lạm-phát-có-điều-kiện hướng về lại các mục tiêu lạm phát đã đề ra.

Khi mà sự thành công của chính sách tiền tệ được đánh giá dựa vào những kết quả cuối cùng và tồn tại một khoảng thời gian từ lúc một chính sách được thực hiện đến khi chính sách có tác động, sự thành công của chính sách tiền tệ, do đó, còn tùy thuộc vào những biến chuyển xảy ra trong những khoảng thời gian này. Những biến chuyển mới phát sinh có thể bị cộng hưởng dưới tác động của các tác nhân trong nền kinh tế làm cho hiện trạng nền kinh tế trở nên bi đát hơn khi chính sách tiền tệ chưa kịp có hiệu lực. Mức lãi suất trong một vài tuấn tới có tác động rất ít đến hành động của các tác nhân kinh tế. Cái mà ảnh hưởng hơn nhiều đó là các dự đoán và mong đợi của các tác nhân trong nền kinh tế đối với các chính sách thiết lập lãi suất của ngân hàng trung ương. Các tác nhân kinh tế đưa ra các quyết định và hoạt động kinh tế dựa trên các dự đoán và mong đợi này. Do đó, khả năng của các ngân hàng trung ương trong việc định hướng dư luận trở thành một nhiệm vụ cực kì quan trọng. “Neo giữ” được niềm tin và mong đợi của các tác nhân trong nền kinh tế, ngân hàng trung ương xem như đã thiết lập được các điều kiện ban đầu nhằm bình ổn lạm phát. Và ở đây, uy tín của ngân hàng trung ương phát huy tác dụng. Một uy tín tốt là một tài sản lớn đối với bất kì một ngân hàng trung ương nào. Và khi mà xây dựng được một uy tín như vậy, ngân hàng trung ương đã thành công môt phần trong nhiệm vụ được ủy thác của mình.

Để xây dựng và duy trì một mức độ khả tín cao, ngân hàng trung ương cần một sự minh bạch cao. Các NHTW-ĐHLP thường xuyên cung cấp các báo cáo chính sách tiền tệ, giải thích ý nghĩa của chúng cũng như động lực phía sau các chính sách đó. Trong nhiều trường hợp, họ cũng sẽ khuyến cáo các chính sách có thể được thực hiện trong tương lai tới các tác nhân trong nền kinh tế. Ngược lại, một mức độ khả tín cao còn cho phép các NHTW-ĐHLP uyển chuyển hơn trong việc thực hiện chính sách tiền tệ của mình. Về lâu về dài, thay vì chỉ tập trung duy nhất vào việc bình ổn lạm phát, chính sách tiền tệ còn phải hướng đến các mục tiêu khác như bình ổn nền kinh tế thực, hiệu quả trong sử dụng tài nguyên, v.v. Ở đây, NHTW-DDHLP cũng phải rõ ràng khi cho các tác nhân kinh tế biết cách tiếp cận của mình.

Và sau cùng, ngân hàng trung ương là cá thể chịu trách nhiệm cuối cùng về các chính sách đề ra. Một mức giải trình (accountability) cao là điều cần thiết nhằm giúp ngân hàng trung ương có thêm động lực thực hiện những mục tiêu của mình. Khi mà các mục tiêu được đưa ra công khai và minh bạch, hoạt động của các NHTW-ĐHLP chịu sự giám sát chặt chẽ của công chúng. Trong nhiều trường hợp, các NHTW-ĐHLP còn chịu sự giám sát và trách nhiệm giải trình với các tổ chức, cơ quan khác nhau, thường là quốc hội hoặc một cơ quan chỉ định bởi chính phủ. Thống đốc ngân hàng sẽ có trách nhiệm giải trình khi lạm phát ra khỏi mục tiêu đã đề ra.

Cục Dự Trữ Liên Bang Mỹ, Ngân Hàng Trung Ương Châu Âu và Ngân Hàng Trung Ương Nhật Bản mặc dù không công khai theo đuổi CSTT-ĐHLP nhưng đã có những bước tiến rất gần tới chính sách này và trên thực tế sự khác biệt là rất nhỏ.

* * *

Vào khi mà nền kinh tế Việt Nam trong những năm gần đây đối mặt với tình trạng lạm phát cao và mất ổn định, CSTT-ĐHLP là một chiến lược mà những nhà làm chính sách Việt Nam có thể tham khảo.

Nguyễn Huy Vũ

Stockholm, Tháng 7.2010


Tham khảo chính:

Svensson, Lars. E.O., 2010, “Inflation Targeting” trong “Handbook of Monetary Economics”, biên tập bởi Friedman, Benhamin M., và Michael Woodford, tập 3a, 3b, sắp xuất bản.

Svensson, Lars E.O., 2000, “Open-Economy Inflation Targeting”, Journal of International Economics 50, 155-183.

Roger, Scott, 2009, “Inflation Targeting at 20: Achievements and Challenges”, IMF Working Paper WP/09/236.