4.3.21

Anh nuôi dưỡng những ngành công nghiệp non trẻ

Một trong những quyết định gây tranh cãi trong dư luận của tổng thống Donald J Trump là quyết định đánh thuế nhập khẩu với sản phẩm thép và nhôm nhằm bảo vệ ngành công nghiệp thép và nhôm của Mỹ. Nó gây tranh cãi bởi vì từ rất lâu, ít nhất là một thế hệ, cả thế giới hầu như say cuồng với tinh thần toàn cầu hoá. Mà toàn cầu hoá thì đi cùng với nó là gỡ bỏ những rào cản về giao thương, thuế và các thủ tục khác nhau. 




Người ta được rao giảng rằng toàn cầu hoá là xu thế của nhân loại, và rằng toàn cầu hoá đem lại lợi ích cho nhiều quốc gia, nhất là những quốc gia chậm tiến khi họ có cơ hội tiếp xúc, trao đổi, và giao thương với các nước phát triển hơn. Hàng hoá trở nên rẻ hơn khi được sản xuất ở các nước nghèo. Công nghệ du nhập vào các nước nghèo theo các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư trực tiếp (FDI). Việc làm được tạo ra, lương bổng được tăng lên, công nhân được đào tạo, ngân sách được mở rộng, và vài mặt hàng nông sản được dịp xuất khẩu — đó là những mặt tích cực của toàn cầu hoá đem lại cho các nước nghèo. 


Những điều tích cực dễ dàng nhận thấy bởi những người bình thường. Còn mặt trái của toàn cầu hoá thì diễn ra một cách chậm hơn, kín đáo hơn, và tạo ảnh hưởng sâu rộng hơn. Toàn cầu hoá sẽ khiến các công ty vừa và nhỏ ở các quốc gia chậm tiến sớm muộn gì cũng sẽ bị mua lại hoặc huỷ diệt bởi các công ty đa quốc gia sở hữu bởi giới tài phiệt các nước giàu mạnh. Toàn cầu hoá nhìn theo góc cạnh này chính là sự bành trướng của những đế quốc thương mại. Sự bành trướng của các đế quốc thương mại dưới danh nghĩa là các công ty đa quốc gia đến lược nó sẽ tạo ra một mối nguy hại về an ninh quốc gia đến các nước khác. Sự bất ngờ và thiếu thốn những mặt hàng cơ bản như khẩu trang và dụng cụ bảo hộ y tế ở các nước phát triển khi dịch cúm Tàu xảy ra và Trung Quốc hạn chế xuất khẩu là một ví dụ điển hình nhất về tác hại đến an ninh quốc gia khi mà từ lâu rồi các nước phát triển không còn sản xuất những mặt hàng này. Giả sử rằng thép và nhôm, do bị cạnh tranh ráo riết và liên tục thua lỗ dẫn đến phá sản, buộc phải đóng cửa các nhà máy ở Mỹ, và rằng Trung Quốc trở thành một công xưởng sản xuất thép và nhôm lớn nhất thế giới, thì điều gì sẽ xảy ra khi vài chục đến một trăm năm sau xảy ra một cuộc chiến tranh thế giới lần thứ ba? Đó chẳng phải là lúc mà Mỹ buộc phải đối diện với một cuộc khủng hoảng khi chẳng thể tự cung cấp thép và nhôm cho ngành công nghiệp quốc phòng?


Nói như vậy không có nghĩa là chống triệt để toàn cầu hoá. Và cho dù muốn chống thì trong thời đại của liên lạc tốc độ nhanh nhờ ở mạng Internet với tốc độ ngày càng tăng, việc di chuyển bằng máy bay trở nên rẻ hơn, và việc biên giới các nước cởi mở hơn với các hoạt động du học, du lịch, thương mại, và định cư, thì việc đóng cửa một quốc gia là điều trở nên bất khả thi nếu không muốn gặp phải những chống đối, trừ khi có những lý do chính đáng như đại dịch.


Nhìn vấn đề ở cả hai khía cạnh của toàn cầu hoá để thấy rằng việc các nước giàu mạnh dùng toàn cầu hoá như là một cách để chinh phục và ảnh hưởng thương mại lên các nước nhỏ, đưa họ vào hệ thống do mình thiết lập, và sẵn sàng lên gân nếu cần. Hãy nhìn cách nước Mỹ liệt kê các nước vào danh sách thao túng tiền tệ hay áp lực tối đa các nước chống đối bằng cấm vận thương mại sẽ hiểu được sức mạnh của mạng lưới thương mại có được nhờ ở toàn cầu hoá. 


Hiểu vấn đề như vậy thì bạn sẽ không ngạc nhiên khi biết rằng các nước phát triển hiện nay đã từng là những nước có công nghệ lạc hậu so với các nước đương thời cách đây vài thế kỷ, và họ đã dùng mọi phương tiện khác nhau, từ hạ sách đến thượng sách, cốt để nắm lấy ưu thế về kỹ thuật trước các đối thủ đương thời. Bảo hộ mậu dịch, nuôi dưỡng những ngành công nghiệp non trẻ, và trong lúc đó cố gắng xây dựng chiến lược thay thế nhập khẩu là một cách như vậy nhằm dựng xây nên một nền công nghiệp. Nước Anh đi đầu, và sau đó Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan, một cách thật ngạc nhiên, đã đi đúng con đường của Anh.


Câu chuyện dưới đây được kể lại từ cuốn “Kicking Away the Ladder” (Đá chiếc thang đi xa) của Ha Joon Chang, và ông Chang, giáo sư đại học Cambridge của Anh, đã mượn lại câu chuyện kể này từ một cuốn sách viết cách đây gần ba thế kỷ và gần như bị lãng quên “A Plan of the English Commerce” (Một Kế hoạch Về Thương mại của người Anh) (1728) của Daniel Defoe.


***


Anh tiến vào thời kỳ hậu phong kiến, vào khoảng thế kỷ 13 và 14, với một nền kinh tế tương đối lạc hậu so với các nước châu Âu khác trong lục địa. Cho đến năm 1600, Anh chủ yếu nhập công nghệ từ các nước châu Âu khác trong lục địa. 


Nền kinh tế Anh phụ thuộc chủ yếu vào xuất khẩu len thô, và một phần nhỏ là vải len có phẩm chất thấp, sang các vùng phát triển hơn ở các nước Hạ Quốc (Low Countries) trong lục địa châu Âu lúc bấy giờ là Bruges, Ghent, và Ypres ở vùng Flanders mà nay là một phần của Bỉ. 


Hoàng gia Anh lúc này đánh thuế lên những sản phẩm này để có nguồn thu. Thuế đánh lên vải khá thấp trong khi thuế đánh lên len thô cao hơn. Len thô chuyển sang châu Âu lục địa dệt thành vải gửi bán lại ở Anh do đó giá thành trở nên rất cao. Dân Anh vì vậy mà dùng vải nội địa nhiều hơn, và một phần vải còn đem đi xuất khẩu vì giá cạnh tranh hơn các nước. Ngành công nghiệp dệt vải nhờ đó mà phát triển. 


Vua Edward Đệ Tam (1327-1377) là vị vua đầu tiên nỗ lực phát triển ngành sản xuất vải len nội địa. Ông chỉ mặc mỗi vải của Anh để khuyến khích dân chúng dùng vải nội địa. Song song đó, ông khuyến khích những thợ dệt vùng Hạ Quốc sang định cư ở Anh, quy hoạch tập trung các hoạt động buôn bán len thô, và cấm nhập khẩu vải len. 


Các vua thuộc triều Tudor đã đi xa hơn trong việc phát triển ngành công nghiệp dệt vải len bằng cách thực hiện một chính sách có chủ đích nhằm thúc đẩy ngành công nghiệp non trẻ này. 


Theo đó, các vua triều Tudor, đặc biệt là Henry Đệ Thất (1485-1509) và Elizabeth Đệ Nhất (1558-1603), đã biến nước Anh từ chỗ là một nước phụ thuộc nặng nề vào việc xuất khẩu len thô sang các nước Hạ Quốc trở thành một quốc gia sản xuất len đứng đầu thế giới. 


Henry Đệ Thất trước khi đăng quang vào năm 1485, sống gần như là một người tị nạn nhờ sự bảo bọc của dì là nữ công tước xứ Burgundy. Ở đó, ông ta cực kỳ ấn tượng với sự thịnh vượng của các nước Hạ Quốc nhờ vào việc sản xuất len. Vì vậy mà sau khi đăng quang, từ năm 1489, ông đã đưa ra những kế hoạch để thúc đẩy ngành sản xuất len của Anh và bắt đầu thực hiện chính sách thay thế nhập khẩu. 


Ở đây, chính sách thay thế nhập khẩu là chính sách dùng thuế và các công cụ luật lệ khác nhau khiến cho hàng hoá sản xuất trong nước trở nên cạnh tranh về giá cả và chất lượng so với các sản phẩm nước ngoài và từ đó mà đánh bật hàng ngoại nhập, giúp nuôi dưỡng các doanh nghiệp nội địa từ từ lớn mạnh. 


Để thực hiện chính sách của Henry Đệ Thất, chính quyền Anh lúc bấy giờ thực hiện những phương thức sau: gửi những phái đoàn của hoàng gia đi thăm dò xem những khu vực nào thích hợp để sản xuất len; lùng đón những nghệ nhân dệt thạo nghề từ những nước Hạ Quốc và đưa sang Anh; tăng thuế, và thậm chí là tạm thời cấm việc xuất khẩu, len thô của Anh. 


Các sắc lệnh được đưa ra trong các năm 1489, 1512, 1513, và 1536, giúp cấm việc xuất khẩu vải chưa hoàn thiện.


Một quan điểm phổ biến lúc bấy giờ đó là bán vải len có lợi hơn là bán len thô, và bán vải đã nhuộm, sẵn sàng để mặc, có lợi hơn là vải đang sản xuất nửa vời. 


Tuy vậy, vua Henry Đệ Thất nhận ra rằng với khoảng cách công nghệ của Anh so với các nước Hạ Quốc, cuộc thay đổi này sẽ mất một thời gian rất lâu. Vì vậy mà ông thực hiện cách tiếp cận từ từ. 


Ông chỉ áp thuế xuất khẩu lên len thô khi ngành công nghiệp sản xuất vải len đã định hình một cách vững chắc. Và ngay khi thị trường cho thấy rõ ràng rằng Anh không đủ khả năng để xử lý tất cả len thô mà họ sản xuất được, thì ông ta mới rút lệnh cấm xuất khẩu len thô mà ông đã áp trước đó. 


Phải cho đến thời của Elizabeth Đệ Nhất (1587), gần 100 năm sau khi Henry Đệ Thất bắt đầu chính sách thay thế nhập khẩu (1489) lúc này Anh mới tự tin về khả năng cạnh tranh quốc tế của ngành sản xuất len của mình, và từ đó cấm việc xuất khẩu len thô hoàn toàn. Điều này cuối cùng khiến cho những nhà sản xuất len ở các nước Hạ Quốc phá sản. 


Bên cạnh chính sách thay thế nhập khẩu, những nhân tố khác cũng đóng góp vào quá thắng lợi của ngành công nghiệp len nước Anh thời Elizabeth Đệ Nhất. 


Một số nhân tố mang tính cách may mắn, chẳng hạn như sự nhập cư của những thợ dệt nói tiếng Hà Lan vùng Flanders (flemish) vốn theo đạo Tin Lành (Protestant) đã bỏ chạy sang Anh khi xảy ra chiến tranh giành độc lập khỏi Tây Ban Nha vào năm 1567. 


Tuy vậy, những nhân tố khác đã được tính toán, thực hiện, và cố đạt được bởi chính quyền. Chẳng hạn, nhằm mở rộng những thị trường mới, Elizabeth Đệ nhất đã gửi những đại diện thương mại của Anh đến gặp Giáo hoàng và các vua của Nga và Ba Tư nhằm thiết lập các kênh thương mại. Nước Anh cũng đã rất khôn ngoan đầu tư vào hải quân nhằm đạt được một ưu thế cách biệt so với các đối thủ, và nhờ vào hải quân, Anh có thể dễ dàng xâm nhập vào các thị trường mới, đô hộ nó, và biến nó thành những thị trường bị thao túng nhằm đem lại lợi nhuận cho mình. 


Với doanh thu chiếm tới một nửa tổng doanh thu xuất khẩu của Anh trong suốt thế kỷ 18, ngành công nghiệp len đã giúp Anh đạt những bước thành công đầu tiên trong quá trình công nghiệp hoá. 


Năm 1721, thủ tướng đầu tiên của Anh, Robert Walpole, cải cách đạo luật thương mại đánh dấu một sự dịch chuyển lớn trong chính sách công nghiệp và thương mại của Anh.


Trước khi cải cách, chính sách thương mại của Anh chủ yếu nhắm vào kiểm soát thương mại và để tạo ra các nguồn thu ngân sách cho chính phủ. Theo đó các giao thương được thực hiện chủ yếu với các thuộc địa và thông qua các đạo luật về hàng hải, vốn quy định việc giao thương với Anh Quốc phải được thực hiện trên các thuyền của Anh.


Việc thúc đẩy ngành sản xuất len ở trên là một ngoại lệ nhưng nó thực ra được thúc đẩy một phần bởi nhu cầu tăng thu ngân sách cho chính quyền. 


Ngược lại, các chính sách giới thiệu vào năm 1721 được suy xét nhằm thúc đẩy những ngành công nghiệp sản xuất. 


Khi đưa ra luật mới, thủ tướng Walpole phát biểu rằng: “rõ ràng không có gì đóng góp nhiều vào việc thúc đẩy phúc lợi công chúng bằng việc xuất khẩu những hàng hoá được chế tạo và nhập về những vật liệu thô từ nước ngoài.”


Luật 1721 và những bổ túc chính sách sau này của nó bao gồm các phần sau. 


Thứ nhất, thuế nhập khẩu (import duty) lên vật liệu thô dùng cho chế tạo được giảm xuống, hoặc thậm chí là bỏ hết. 


Thứ hai, số tiền thuế được hoàn trả (duty drawback) đối với các vật liệu nhập khẩu dùng cho các mặt hàng xuất khẩu được tăng lên. Chính sách này đã được thiết lập từ thời William và Mary. Điều này giúp hạ giá thành các sản phẩm tạm nhập và tái xuất, giúp sản phẩm xuất khẩu của Anh cạnh tranh hơn trên trường quốc tế. 


Chẳng hạn, thuế nhập khẩu đánh lên da con hải ly sẽ được giảm xuống và trong trường hợp tái xuất khẩu thì nhà sản xuất các mặt hàng làm từ da con hải ly sẽ được tăng khoản tiền thuế hoàn lại, lên một nửa tiền thuế chẳng hạn. 


Thứ ba, thuế xuất khẩu (export duty) lên tất cả các sản phẩm chế tạo được bãi bỏ. Điều này giúp tăng tính cạnh tranh về giá cả cho các mặt hàng sản xuất của Anh.


Thứ tư, tăng thuế nhập khẩu lên các sản phẩm chế tạo ở nước ngoài được nhập vào tiêu dùng trong nước. 


Thứ năm, trợ cấp xuất khẩu được mở rộng sang những sản phẩm mới như các sản phẩm lụa tơ tằm (1722) và thuốc súng (1731), trong khi trợ cấp cho các sản phẩm xuất khẩu khác như vải buồm (sailcloth) và đường tinh luyện được tăng lên vào các năm 1731 và 1733 tương ứng. 


Thứ sáu, các quy chuẩn (regulation) được đưa ra nhằm kiểm soát chất lượng của các hàng hoá chế tạo, đặc biệt là các sản phẩm dệt, nhờ vậy mà các nhà sản xuất vô lương tâm không thể phá hỏng danh tiếng của hàng hoá Anh Quốc trên các thị trường nước ngoài. 


Tóm lược lại, luật này có các tác dụng như sau: i) những nhà sản xuất phải được bảo vệ ngay trong nội địa khỏi sự cạnh tranh với các sản phẩm nước ngoài; ii) đảm bảo việc xuất khẩu những mặt hàng hoàn thiện tự do và không phải chịu thuế; iii) và khi có thể, việc khuyến khích phải được đưa ra bằng cách dùng tiền thưởng hoặc trợ cấp.


Điều thú vị là những chính sách được giới thiệu trong đạo luật cải cách năm 1721 và cả những nguyên lý phía sau nó, một cách ngạc nhiên, rất giống những chính sách được thực thi bởi Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan trong suốt giai đoạn hậu chiến của họ — giai đoạn mà ở đó, các nền kinh tế này đã hồi sinh và vươn lên trở thành những nền công nghiệp năng động và hiện đại. 


Cùng với cuộc Cách mạng Công nghiệp trong nửa sau thế kỷ 18, Anh Quốc bắt đầu dẫn đầu khả năng công nghệ vượt qua những nước khác. Dù vậy, họ vẫn tiếp tục chính sách thúc đẩy công nghiệp cho tới giữa thế kỷ 19, và lúc này thì sự ưu việt về kỹ thuật của Anh đã vượt trội. 


Trong chính sách bảo hộ và thúc đẩy những ngành công nghiệp mới, Anh chủ yếu dùng các sắc thuế. Họ đã duy trì mức thuế nhập khẩu cao trên các sản phẩm sản xuất từ nước ngoài cho tới thập niên 1820, và kể cả khi họ đã dẫn đầu các đối thủ về công nghệ. Bên cạnh thuế, những biện pháp hành chính khác cũng được triển khai. 


Trong việc giao thương, mà chủ yếu với các thuộc địa, Anh cấm nhập khẩu những sản phẩm chất lượng tốt từ một số thuộc địa mà họ thấy rằng những sản phẩm và ngành công nghiệp sản xuất này đe doạ đến những ngành công nghiệp của Anh. 


Năm 1699, Anh đưa ra đạo luật về len (Wool Act) cấm việc xuất khẩu những sản phẩm len từ những nước thuộc địa, và đạo luật này đã góp phần giết chết ngành công nghiệp len vốn rất phát triển của Ireland. 


Năm 1700, Anh đưa ra một đạo luật khác cấm nhập khẩu các sản phẩm vải sợi (cotton) chất lượng tốt từ Ấn Độ. Lúc này, ngành công nghiệp vải sợ của Ấn Độ thuộc hàng đầu thế giới. Lệnh cấm đã làm yếu đi ngành công nghiệp này, và sau đó dẫn đến sự sụp đổ của ngành công nghiệp vải sợi trước khi công ty Đông Ấn — công ty đại diện cho Anh cai quản Ấn Độ — chấm dứt sự độc quyền trong thương mại quốc tế vào năm 1813. Vào lúc này, Anh đã có một nền công nghiệp vải sợi ưu việt hơn hẳn Ấn Độ. Hai thế hệ sau, khoảng trước năm 1873, xấp xỉ 40-45% tổng lượng xuất khẩu vải sợi của Anh là sang Ấn Độ. 


Những đòi hỏi về tự do thương mại chỉ bắt đầu đến vào khoảng thời gian trước khi kết thúc các cuộc chiến tranh của Napoleon vào năm 1815. Lúc này những nhà sản xuất công nghiệp của Anh đã tự tin vào khả năng cạnh tranh công nghệ của mình. Họ đã dẫn đầu hầu hết tất cả các lĩnh vực, ngoại trừ một vài lĩnh vực hẹp mà ở đó Bỉ và Thuỵ Sỹ sở hữu những công nghệ vượt trội. 


Tuy vậy, những thay đổi thực sự về thương mại tự do chỉ diễn ra vào khoảng giữa thế kỷ 19. Năm 1846, luật Bắp (Corn Law) được huỷ bỏ và thuế nhập khẩu trên một số mặt hàng được gỡ bỏ. Và năm 1860, hiệp ước thương mại tự do Anh - Pháp được thông qua, hầu hết các thuế quan được bãi bỏ.


Nhưng, thương mại tự do không kéo dài lâu. Đến cuối thế kỷ 19, những nhà sản xuất Anh bắt đầu kêu gọi chính phủ bảo hộ. Đầu thế kỷ 20, việc áp dụng trở lại chính sách bảo hộ là một trong những chủ đề nóng bỏng nhất của chính trường Anh khi họ dần mất đi lợi thế sản xuất so với Mỹ và Đức. Tự do thương mại cuối cùng chấm dứt khi Anh công nhận rằng họ đã đánh mất vị thế sản xuất và áp đặt trở lại thuế hải quan trên diện rộng vào năm 1932.


***


Nhìn lại lịch sử công nghiệp hoá của Anh để thấy rằng những thành tựu công nghiệp có được của họ nhờ ở một quá trình can thiệp liên tục bởi các chính sách của chính quyền. Các chính sách này mang tính kế thừa bởi các chính quyền khác nhau và có khi kéo dài hàng trăm năm. Trong đó, thuế, các thủ tục và luật lệ, những chiến thuật ngoại giao, và việc lùng kiếm nhân tài là những phương cách chính nhằm nuôi dưỡng và bảo hộ những ngành công nghiệp non trẻ. Bảo hộ hay mở cửa tự do thương mại do đó cũng chỉ là một chính sách nhằm bảo đảm sự phồn thịnh của quốc gia. Những trải nghiệm trong quá trình công nghiệp hoá của Anh cũng là những gì mà các nước Đông Á — Nhật, Hàn Quốc, và Đài Loan — đã thực hiện thành công, và có lẽ nó còn là bài học cho nhiều nước đi sau nữa. 


Nguyễn Huy Vũ 

30.1.2021

26.2.21

Bitcoin: Ủng hộ và phản đối

Trong một xã hội, đối với một vấn đề luôn có hai xu hướng: ủng hộ và phản đối. Ngay cả Bitcoin cho đến giờ này cũng khoảng một nửa giới đầu tư là chống. Janet Yellen, đương kim Bộ trưởng Tài chính và là cựu chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ, hôm rồi cũng lên tiếng tỏ ý chống đối và thế là Bitcoin hai hôm nay rớt từ gần 60 ngàn xuống dưới 50 ngàn, tức 25% chỉ trong hai ngày.

Giới đầu cơ thì họ xem Bitcoin như một món hàng và xem nó như là “lâu đài trong không khí” (catsle in the air). Khi mà lâu đài vẫn còn lung linh thì người ta vẫn cứ mơ mộng. Người ta đầu tư vì nghĩ rằng ngày mai nó tăng giá chứ chẳng phải vì có một công thức nào định lượng được giá trị của nó là bao nhiêu. Nếu những công ty công nghệ hàng đầu có tài sản ngàn tỉ đô thì một công ty Bitcoin với công nghệ chuyển khoản phi tập trung cũng có thể có giá như vậy. Và tương tự các công ty trên sàn chứng khoán khi mà các cổ phiếu đại diện cho một phần sự sở hữu của công ty thì các đồng Bitcoin cũng tương tự đại diện cho sự sở hữu của hệ thống Bitcoin. Hệ thống Bitcoin có giá trị là ở chỗ đó. 


LỊCH SỬ BITCOIN


Giữa cuộc khủng hoảng tài chính thế giới cách đây hơn một thập kỷ, vào ngày 31/10/2008, một người có bí danh là Satoshi Nakamoto gửi một tin nhắn qua email với tựa đề là “Bitcoin P2P e-cash paper” (“Bài báo về một loại tiền điện tử thanh toán trực tiếp giữa hai người có tên là Bitcoin”) đến cho một cộng đồng những người nghiên cứu mật mã. Trong tin nhắn này, còn có một đường dẫn đến một bài báo có tên gọi “Bitcoin: A Peer-to-Peer Electronic Cash System” (Bitcoin: Một hệ thống tiền điện tử giữa hai người).


Trong hai bài báo này, Nakamoto đưa ra khái niệm về một loại tiền điện tử phi tập trung (decentralization).  


Với hệ thống tiền tệ từ trước tới nay, để chuyển tiền từ tay một người sang đến một người khác ở xa, người chuyển phải nhờ đến ngân hàng hoặc một tổ chức trung gian đứng ra chuyển giúp. Hệ thống chuyển tiếp tiền tệ này được gọi là hệ thống tập trung, vì tất cả các giao dịch đều đưa về các ngân hàng. Các ngân hàng sau đó kết nối với các hệ thống điều phối của quốc gia để thực hiện các giao dịch. Ở tầm mức quốc tế, các giao dịch chuyển tiền phải thông qua các hệ thống kết nối quốc tế, chẳng hạn hệ thống SWIFT có trụ sở ở Bỉ. 


Với hệ thống tiền điện tử phi tập trung kiểu Bitcoin, người gửi có thể chuyển tiền điện tử trực tiếp đến tài khoản của người nhận ở bất cứ đâu mà không cần thông qua một cơ quan trung gian nào. 


Lợi ích của một hệ thống thanh toán phi tập trung thì có nhiều. Thứ nhất, nó giúp các thanh toán diễn ra rất nhanh, không cần tốn kém xây dựng cơ sở hạ tầng các trung tâm chuyển tiếp giao dịch. Thứ hai, nó tăng tính bảo mật và riêng tư vì chỉ có người gửi và người nhận biết giao dịch, không có bên trung gian. 


Cả hai lợi ích này của hệ thống tiền điện tử phi tập trung đến lượt nó lại trở thành những điều bất cập. Bất cập thứ nhất là vì không có một cơ quan trung gian nắm giữ thông tin người dùng cho nên khi người dùng quên mật khẩu của ví tiền điện tử chứa khoá của tiền Bitcoin đồng nghĩa với việc toàn bộ số tiền không thể nào lấy ra chi tiêu được trừ khi bạn viết khoá xuống giấy lưu trữ trong nhà. Bất cập thứ hai đó là việc giao dịch của hệ thống tiền điện tử phi tập trung giúp tránh được ánh mắt soi mói, dòm ngó của các cơ quan trung gian khác nhau khiến cho tiền mật mã trở thành một phương tiện thanh toán ưa thích của giới làm ăn bất hợp pháp. 


Trở lại câu chuyện lịch sử của Bitcoin. Vào ngày 3/1/2009, lô tiền điện tử Bitcoin đầu tiên được ra đời, và một tuần sau đó, giao dịch thử nghiệm được thực hiện. Trong mấy tháng đầu tiên, những người đào tiền mật mã chỉ thử nghiệm công nghệ chuỗi khối (blockchain) của Bitcoin. Lúc này Bitcoin không có giá trị nào cả. Người ta đào tiền mật mã bằng cách dùng máy tính để giải những bài toán phức tạp để từ đó nhận được những đồng Bitcoin mới. Họ giao dịch với nhau chủ yếu để vui chơi. 


Giao dịch thương mại đầu tiên dùng Bitcoin chỉ diễn ra sau đó một năm khi một người ở Florida đã trả 10.000 Bitcoin để mua hai bánh pizza của tiệm ăn Papa John vốn có giá 25 đô la. Và lúc này, dựa theo giá trị giao dịch thì 4 đồng Bitcoin chỉ có giá trị tương đương 1 cent. 


Vào tháng 2/2011, tức hơn hai năm sau khi ra đời, một đồng Bitcoin giờ đây có giá hơn 1 đô la. Trải qua nhiều thăng trầm lên xuống trong vòng 10 năm kế tiếp, giờ đây một đồng Bitcoin có giá hơn 50 ngàn đô la Mỹ. 


Ngày nay, chẳng mấy ai còn nhắc đến bí danh Satoshi Nakamoto của người sáng lập. Thuyết âm mưu đưa ra các dự đoán khác nhau. Họ cho rằng Bitcoin có thể là một sản phẩm của một nhóm kỹ sư của Google trong một dự án bí mật nào đó, hoặc đó cũng có thể là một dự án của cơ quan tình báo CIA của Hoa Kỳ. 


CÔNG NGHỆ CHUỖI KHỐI (BLOCKCHAIN)


Công nghệ chuỗi khối được đưa ra bởi Stuart Haber và W. Scott Stornetta vào năm 1991. Hai nhà nghiên cứu này muốn áp dụng một hệ thống mà ở đó con dấu thời gian ghi trên các tài liệu không thể sửa đổi được. Đến hai thập niên sau, Bitcoin ra đời bằng cách ứng dụng công nghệ này. 


Công nghệ chuỗi khối trước hết là một dạng công nghệ lưu trữ dữ liệu đặc biệt. Gọi là đặc biệt bởi vì các thông tin được lưu trữ trong các khối và các khối này được xích vào nhau. Trong trường hợp của Bitcoin, công nghệ chuỗi khối được dùng theo cách phi tập trung và nhờ đó mà các thông tin một khi đã ghi vào các khối thì không thể sửa.


Trước khi đi sâu hơn về chi tiết của công nghệ, chúng ta hãy hình dung việc bắt đầu một giao dịch Bitcoin. Khi một giao dịch mới được đưa vào, giao dịch đó được chuyển đến một hệ thống những máy tính của những người dùng Bitcoin khắp thế giới. Hệ thống các máy tính này sẽ giải những phương trình nằm xác nhận giao dịch này. Sau khi xác nhận xong, các giao dịch hợp pháp sẽ được tụm lại và bỏ vào một khối. Các khối này sau đó được móc vào nhau tạo thành một chuỗi dữ liệu về giao dịch bất biến theo thời gian, và lúc này giao dịch kết thúc. 


Với cách lưu trữ thông tin theo công nghệ chuỗi khối phi tập trung của Bitcoin, mỗi một máy tính của người dùng Bitcoin hiện diện ở một vùng khác nhau đóng vai trò lưu giữ dữ liệu trong mạng lưới gọi là nút (node). Trong mỗi nút sẽ chứa đầy đủ các thông tin về các giao dịch. Và vì vậy mà khi một người muốn thay đổi thông tin trong mỗi nút thì hệ thống các nút khác sẽ tham chiếu, chỉ ra lỗi sai thông tin của nút đó và sửa nó. Do đó, các nút không thể tự chỉnh sửa lịch sử thông tin giao dịch. Muốn thay đổi thông tin chứa trong hệ thống hay muốn thay đổi cách hệ thống hoạt động, đòi hỏi phải nhận được đa số sức mạnh tính toán trong hệ thống đồng ý cho một sự thay đổi. Đặc tính này khiến cho hệ thống trở nên an toàn hơn vì khó mà làm thay đổi được một đa số. Việc không thay đổi được thông tin giao dịch cũng giúp các giao dịch trở nên minh bạch hơn vì lịch sử giao dịch sẽ được ghi chép lại. 


Bởi vì đặc tính kỹ thuật khiến lịch sử thông tin không thể thay đổi được này, công nghệ chuỗi khối đang được xem xét sử dụng vào việc bỏ phiếu bầu cử ở các nước dân chủ, hoặc dùng để ghi các hợp đồng. 


YẾU TỐ ĐỊNH HÌNH SỰ TỒN TẠI CỦA BITCOIN


Bitcoin có giá trị không có nghĩa là các đồng tiền khác có giá trị tương đương. Nó cũng giống như Facebook hay Twitter có giá trị vốn hoá thị trường cao nhưng không chắc các mạng xã hội khác có được một giá trị gần như vậy. Vị trí tồn tại và giá trị của Bitcoin do đó là một sự kết hợp của cả hai xu hướng ủng hộ và chống đối. Có một vài yếu tố chính: 


Thứ nhất, số lượng Bitcoin có thể đào được là một con số hữu hạn và không ai thay đổi được. Thuật toán của Bitcoin giới hạn tổng số lượng đồng tiền (coin) có khả năng đào được tối đa là 21 triệu. Hiện nay đã đào được chừng 18 triệu, và như vậy còn khoảng 3 triệu đồng tiền nữa để đào. Nhưng thuật toán được thiết lập cho rằng số lượng đồng tiền sẽ ngày càng khó đào và để đào được 3 triệu đồng còn lại có thể phải mất 100 năm nữa. Nhưng có khi đào nửa chừng thì không ai muốn đào nữa vì có thể chi phí cao quá so với lợi nhuận mang lại trừ khi giá tăng đủ để mang lại lợi nhuận. Thuật toán đào Bitcoin mô phỏng cách những người thợ mỏ đào vàng. Ban đầu người ta khai thác ở những mỏ lộ thiên một cách dễ dàng, nhưng càng về sau thì việc khai thác càng khó khăn hơn, tốn kém hơn vì phải đào sâu xuống. Đối với Bitcoin, để đào được từng đồng Bitcoin thì hệ thống máy tính sẽ chạy theo một thuật toán nhất định, tính toán ra một kết quả và đối chiếu kết quả đó với thông tin hệ thống các đồng Bitcoin sẵn có để xác nhận một đồng Bitcoin mới được ra đời. Việc tính toán đòi hỏi tốn nhiều năng lượng để chạy các máy tính. Hiện nay, mỗi ngày thế giới đào được khoảng 900 đồng Bitcoin mới.


Thứ hai, đứng sau sự chống lưng của Bitcoin còn là hệ thống các tổ chức và các nước chống lại sự độc quyền về kiểm soát tài chính của Mỹ và phương Tây. Bằng cách thực hiện các giao dịch thông qua hệ thống Bitcoin, các tổ chức này tránh được sự theo dõi và trừng phạt của Hoa Kỳ. Các tổ chức này đến lượt nó vận động hành lang cho giới công nghệ và tài chính Hoa Kỳ nhằm hỗ trợ và phổ biến việc thanh toán bằng đồng Bitcoin. 


Thứ ba, chính giới Hoa Kỳ ý thức rõ rằng một khi Bitcoin được dùng phổ biến thì vai trò của đồng đô-la trên trường quốc tế sẽ mờ đi, và một khi đồng đô la mờ đi thì đồng nghĩa với vai trò và ảnh hưởng của Mỹ sẽ dần mất đi. Hãy tưởng tượng cảnh chính giới Hoa Kỳ không thể trừng phạt một nước nào đó bằng cách cấm họ tiếp cận hệ thống ngân hàng thương mại trong khi các đối thủ có thể dễ dàng thực hiện các giao dịch qua hệ thống đồng Bitcoin. Cho nên giới chức chính trị Hoa Kỳ cố gắng ngăn chặn Bitcoin trở thành một công cụ tài chính chính thức. Cho tới nay, chưa có một quỹ chỉ số (ETF) nào về Bitcoin được cấp phép dù cho có các quỹ chỉ số khác nhau về vàng, bạc, dầu hay các mặt hàng khác.


Thứ tư, những người theo chủ nghĩa tự do cũng là một giới đứng sau ủng hộ Bitcoin. Giới theo trường phái tự do phải kể đến các triết gia kinh tế theo trường phái Áo là những người ủng hộ tư tưởng rằng chính phủ đừng nên phát hành tiền mà để các ngân hàng tư nhân phát hành tiền. Tư tưởng này giờ đây được viện Cato, một viện nghiên cứu chính sách (thinktank) theo tư tưởng tự do của Mỹ cổ xuý và đề xướng trong các bản góp ý chính sách cho chính phủ Mỹ. Bạn đọc ban đầu sẽ ngạc nhiên về chuyện để các ngân hàng tự động phát hành tiền, rồi lo sợ nó thành một mớ hỗn loạn. Nhưng hãy hình dung một hoàn cảnh, như Zimbabwe chẳng hạn. Khi kinh tế lạm phát, thị trường lập tức xuất hiện các đồng tiền khác nhau và đồng tiền nào ổn định thì người dân ưa chuộng, và dùng nó. Những đồng tiền khác sẽ tự nhiên bị loại bỏ. Như vậy thị trường sẽ tự động quyết định cái tốt nhất. Đó cũng là trường hợp nếu Bitcoin trở nên phổ biến thì người Mỹ sẽ có hai lựa chọn giữa Bitcoin và đô la chẳng hạn.Và nếu mà họ cảm thấy lo lắng rằng việc in tiền quá nhiều của chính phủ khiến tiền mất giá thì họ cũng có thể chọn Bitcoin làm nơi lưu giữ tài sản của họ, tương tự như vàng.


Lạm phát nước Mỹ tương đối ổn định trong vài thập kỷ qua, nhất là từ sau khi kết thúc chiến tranh Việt Nam. Kinh tế Mỹ và đồng minh tương đối tăng trưởng cùng với việc mở rộng toàn cầu hoá khiến nguồn cung hàng hoá trở nên ổn định, giúp duy trì mức lạm phát trong ngưỡng kiểm soát được. Thêm vào đó là các nghiên cứu và ứng dụng chính sách tiền tệ kiểu mới, trong đó phải kể đến là chính sách định hướng lạm phát (inflation targeting), đã giúp Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ kềm chế mức lạm phát chỉ trong khoảng 2% mỗi năm. Cho nên chuyện đề xuất để các ngân hàng tư nhân phát hành tiền của giới tự do vẫn chỉ là một đề xuất, vì nó không thật sự cần thiết vào lúc này — tại sao phải thay một hệ thống khi ít nhất nó vẫn đang chạy tốt, và trong khi đó còn rất nhiều chuyện khác cần phải làm. Nhưng ít nhất, giới nghiên cứu đã biết rằng ở đó có một khả năng về giải pháp.


CHÍNH SÁCH NÀO CHO VIỆT NAM


Việc Bitcoin tăng giá trong vài tuần qua được một số giới cho rằng đó là do tâm lý lo ngại lạm phát khi chính phủ Mỹ đang in tiền để hỗ trợ nền kinh tế đang khủng hoảng. Thật ra, tâm lý đầu tư vì lo ngại lạm phát nếu có chỉ là một phần nhỏ. Điều mà giới đầu tư dám bỏ tiền nghiêm túc để đầu tư vào Bitcoin khiến giá tăng vọt trong vòng một năm nay nằm ở chỗ họ nhận định rằng các hệ thống tài chính quốc tế bắt đầu trở nên cởi mở hơn với đồng Bitcoin và bắt đầu nhìn nhận nó như một tài sản.


Mới đây, Ngân hàng New York Mellon (Bank of New York Mellon), ngân hàng cổ nhất Hoa Kỳ, vừa tuyên bố rằng họ sẽ chấp nhận Bitcoin như một tài sản ký gửi của khách hàng. Ngân hàng New York Mellon không phải là đơn vị duy nhất bắt đầu hé cánh cửa đối với Bitcoin. Paypal, mạng thanh toán điện tử hàng đầu của Hoa Kỳ đã bắt đầu nhận thực hiện các giao dịch bằng đồng Bitcoin, và Tesla, hãng sản xuất xe điện cũng có kế hoạch nhận các giao dịch bằng đồng tiền mật mã này. Sự hữu dụng hơn kéo theo sự phổ biến hơn của đồng Bitcoin do đó là nguyên nhân chính khiến đồng tiền mật mã này đã tăng phi mã.


Không chỉ có giới tài chính Mỹ bắt đầu mở hé cánh cửa cho Bitcoin. Thuỵ Sỹ và Singapore trong những năm qua đã cố gắng hình thành các thiết chế nhằm mời gọi các dự án về tiền mật mã (cryptocurrency) và cạnh tranh với nhau trong việc trở thành các trung tâm tài chính sáng tạo, cởi mở với tiền mật mã. 


Nếu có một góp ý chính sách cho Việt Nam đó là những nhà làm luật nên hình thành một nhóm chuyên gia đưa ra các tư vấn và đề xuất trên cơ sở tham khảo các chính sách của Singapore và Thuỵ Sỹ để hình thành một bộ khung nhằm hỗ trợ phát triển và giải quyết các tranh chấp liên quan đến tiền mật mã, một loại tài sản mới. Việc hỗ trợ đó không chỉ giúp biến Việt Nam trở thành một trung tâm tài chính ngày càng cởi mở hơn mà nó còn giúp giới công nghệ của Việt Nam học hỏi và nắm bắt những công nghệ quan trọng đằng sau hệ thống tiền mật mã này. 


Nguyễn Huy Vũ

23.2.2021

3.2.21

Miến Điện: Cuộc hôn nhân dân chủ sụp đổ

Hôm 1/2, thế giới chứng kiến một cuộc đảo chính xảy ra ở Miến Điện. Phe quân đội bắt giam Aung San Suu Kyi, các nghị sỹ và các lãnh đạo vùng của Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ (NLD). Phe quân đội cáo buộc rằng cuộc bầu cử vào tháng 11 năm rồi là gian lận và họ sẽ tổ chức một cuộc bầu cử mới vào năm sau. Nhưng những người có hiểu biết đều biết rằng đó chỉ là cái cớ và cái cớ này là một cách để quân đội cố gắng lấy lại quyền lực của mình. 



Mười năm trước, đứng trước sự cô lập của thế giới và sự khủng hoảng của nền kinh tế, các tướng lãnh Miến Điện quyết định chấm dứt sự lệ thuộc của mình vào Trung Quốc và bắt tay với đảng NLD hòng mở ra một con đường mới cho mình, và có lẽ cho dân tộc. 


Phe quân đội là một thực thể thống trị bao trùm Miến Điện trong một thời gian dài. Họ có quyền lực lẫn kinh tài, nắm trong tay tất cả những lĩnh vực kinh tế trọng yếu của quốc gia. Việc hợp tác với Aung San Suu Kyi và đảng NLD của bà nhằm mục đích mở cánh cửa Miến Điện ra với các nước phương Tây. Vì cho đến lúc này Aung San Suu Kyi là nhân vật nhận được nhiều thiện cảm nhất với phương Tây và có thể đóng vai trò như chiếc cầu nối giúp Miến Điện thoát khỏi tình trạng bị cô lập. Càng gần với phương Tây, thoát khỏi tình trạng cô lập, thì phe quân đội càng có nhiều đòn bẩy trong ngoại giao hơn, bớt bị áp lực chèn ép bởi Trung Quốc, lại có thêm nhiều cơ hội để kinh doanh. Đó là lý do mà phe quân đội chọn cách hợp tác với Aung San Suu Kyi. 


Hợp tác với Aung San Suu Kyi và đảng NLD trong tiến trình gọi là dân chủ hoá nhưng phe quân đội đã chuẩn bị sẵn mọi thứ. Họ viết sẵn hiến pháp với những điều khoản trong đó cho phép quân đội hiện diện trong các cơ quan hành pháp và kiểm soát an ninh quốc gia. Về lập pháp, hiến pháp quy định rằng quân đội được chia một phần tư số ghế trong quốc hội nhà nước và một phần ba số ghế ở các cơ quan lập pháp bang. Về chính phủ, ba bộ quan trọng của quốc gia gồm Bộ Nội vụ (Ministry of Home Affairs), Bộ Biên giới (Ministry of Border Affairs) và Bộ Quốc phòng (Ministry of Defense) đều phải thuộc về quân đội. Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm về các vấn đề an ninh nội địa của Miến Điện. Bộ Biên giới chịu trách nhiệm về các chính sách đối với các vùng biên giới vốn có các sắc dân thiểu số cư trú. Và Bộ Quốc phòng nắm giữ khí tài và binh quyền. Nắm cả ba bộ này coi như nắm toàn bộ quyền lực của quốc gia. 


Nhưng chưa hết, hiến pháp còn quy định cả một cách bầu cử tổng thống và hai phó tổng thống rất đặc biệt. Đặc biệt bởi vì bầu kiểu gì thì cũng có người quân đội nằm bên trong cơ quan hành pháp cao nhất của quốc gia. Cách bầu tổng thống như sau. Các đại diện của Hạ viện nhóm thành một uỷ ban, các đại diện của Thượng viện thành một uỷ ban thứ hai, và phe quân đội với các đại diện thành uỷ ban thứ ba. Mỗi uỷ ban đề cử một ứng viên làm tổng thống. Cả ba ứng viên này đưa ra quốc hội bầu. Ai phiếu cao nhất làm tổng thống, hai người phiếu thấp hơn làm phó tổng thống. Với cách bầu này, lúc nào phó tổng thống cũng là người của quân đội. 


Để có được ảnh hưởng chính trị hơn nữa, phe quân đội còn lập ra một đảng chính trị có tên gọi đảng Đoàn kết và Phát triển Quốc gia (Union Solidarity and Development Party, USDP), và để đảng này chạy đua trong cuộc bầu cử. 


Aung San Suu Kyi và đảng NLD cũng có những tính toán riêng của mình. Khi chấp nhận hợp tác với phe quân đội, Aung San Suu Kyi sẽ có điều kiện hơn trong việc tiếp xúc với quần chúng, đưa ra những thông điệp thông qua các phương tiện truyền thông nhiều hơn. Và để từ đó xây dựng lực lượng ủng hộ lớn hơn nhằm áp lực lên những thay đổi chính trị. Mục tiêu cuối cùng là sửa đổi hiến pháp. 


Mười năm nhìn lại mối quan hệ này, Aung San Suu Kyi và đảng NLD của bà được nhiều hơn mất. Sự ủng hộ của người dân dành cho đảng NLD của bà ngày càng lớn, và đó là lý do mà NLD đã thắng đậm, hơn hẳn kỳ bầu cử năm 2015. 


Ngược lại, phe quân đội hầu như không nhận được những gì như mong đợi. Miến Điện vẫn còn là một đối tác quá xa lạ với phương Tây. Giới quân đội tiếp tục bị cấm vận và trừng phạt kể từ sau vụ khủng hoảng người Rohingya. Ảnh hưởng chính trị của quân đội ngày càng suy yếu. Và điều quan trọng là con bài Aung San Suu Kyi trong mắt phe quân đội không còn giá trị nữa khi Aung San Suu Kyi đã bị thế giới phương Tây tẩy chay và lên án.



Lúc này, phe quân đội đứng giữa hai chọn lựa: hoặc là chấp nhận để NLD khống chế chính trường, ngày càng lớn mạnh, và một ngày nào đó, làm suy yếu và hất cẳng phe quân đội; hoặc là phe quân đội phải ra tay trước nhằm chặn sự bành trướng của NLD. Cuối cùng, phe quân đội đã quyết định lựa chọn thứ hai.


Có hai sai sót lớn mà Aung San Suu Kyi đã mắc phải trong 10 năm qua, kể từ sau khi chính thức bước lên vũ đài chính trị. 


Sai sót đầu tiên đó là bà đã im lặng trong vụ thảm sát người Rohingya. Dẫu biết rằng đó là một cuộc xung đột phức tạp có nguồn gốc lịch sử, nhưng việc thể hiện mình là một biểu tượng của hoà giải và bao dung không những chỉ giúp xây dựng hình ảnh và uy tín của mình mà còn giúp hàn gắn các dân tộc khác nhau trên cùng đất nước Miến Điện. Khi không thể bao dung với những người khốn cùng trên cùng một đất nước mình thì làm sao có thể bao dung với đối thủ của mình trong phe quân đội? Và đó có thể là lý do mà phe quân đội luôn nghi ngờ phe NLD không thực chất hợp tác. 


Ở đây, cần nói thêm một chút về người Rohingya. Họ được cho là người ở vùng phía Bangladesh di cư sang Miến Điện từ thời Anh đô hộ vùng này. Đa số người trong họ theo Hồi giáo nhưng ngày nay họ gắn bó với nhau nhờ vào văn hoá, ngôn ngữ, và lịch sử hơn là tín ngưỡng tôn giáo, vì có một thiểu số người theo Ấn giáo trong cộng đồng này. Ngày nay, họ là những người vô tổ quốc. Miến Điện không công nhận và không cấp hộ chiếu cho họ, hoặc cấp với những điều kiện không thể đáp ứng. Và vì không phải công dân Miến Điện, họ không được đi học lên bậc phổ thông, không được dùng các bệnh viện công của chính phủ, không được bầu cử, và cũng không thể xin các công việc của chính phủ như cảnh sát, giáo viên. Họ bị hạn chế đi lại và bị cáo buộc có liên quan đến các nhóm khủng bố Arab Saudi. Vào tháng 8 năm ngoái, nhóm vũ trang của lực lượng người Rohingya đã tấn công đồn cảnh sát, giết chết 12 cảnh sát viên. Phe cảnh sát tấn công lại trả thù, giết chết khoảng 400 đến 1000 người. Xung đột bạo lực và bế tắt là những gì có thể miêu tả về tình cảnh cộng đồng người Rohingya. 


Sai sót thứ hai là bà đã không thúc đẩy để mở cửa Miến Điện nhanh chóng hơn. Mà một hậu quả đó là giờ đây, thậm chí khi các nước phương Tây muốn tạo áp lực lên phe quân đội thì họ cũng khó có thể tìm được một đòn bẩy nào. 


Chính trị là hoạt động của thoả hiệp. Và trong trường hợp của Miến Điện, giai đoạn thoả hiệp dưới lá cờ dân chủ vừa kết thúc. Tương lai của đất nước một lần nữa phụ thuộc vào quyết chí của người dân.


Nguyễn Huy Vũ

3.2.2021

13.1.21

Trung Quốc và Hoa Kỳ, cuộc chạy đua của hai siêu cường



Sau Thế chiến thứ Hai, Hoa Kỳ nổi lên như một cường quốc đứng đầu thế giới với năng lực vượt trội. Trong suốt hơn 70 năm sau đó, thế giới tương đối hoà bình, ngoại trừ vài cuộc chiến uỷ nhiệm giữa hai phe tư bản và cộng sản, đã giúp cho các nước vốn có tiềm lực thời gian để vươn mình trở lại cuộc đua giành ngôi vị cường quốc thế giới. 


Đức và Nhật nhờ vốn con người còn nguyên vẹn cùng sự giúp đỡ của Mỹ đã nhanh chóng hồi phục và trở thành những cường quốc. Tuy vậy, cùng với Anh, Pháp, và Ý, Đức và Nhật tuy trình độ công nghệ đã gần như bắt kịp Hoa Kỳ nhưng vì hạn chế về dân số, chỉ khoảng bằng một phần ba dân số của Mỹ, nên tiềm lực kinh tế và quốc phòng tổng thể của mình không thể nào đọ được với Hoa Kỳ. Tương tự, nước Nga với diện tích rộng lớn nhưng thưa dân, bị cô lập bởi phương Tây, nên chỉ dừng lại như một cường quốc khu vực. 


Hai nước có dân số hơn hẳn Hoa Kỳ đó là Ấn Độ và Trung Quốc. Ấn Độ là một nước dân chủ, đa sắc tộc, đa tôn giáo. Trong lịch sử đó là một lục địa của các tiểu vương quốc. Các tiểu vương quốc thường xuyên đánh nhau và do vậy mà Ấn Độ, vì các yếu tố nội tại của mình, chưa bao giờ có tư tưởng bá quyền. Trung Quốc ngược lại đã thống nhất thành một quốc gia có tổ chức, kỷ luật và kỷ cương từ rất sớm kể từ thời nhà Hán hơn 200 năm trước Công nguyên. Nhờ ở sự thống nhất và tập quyền đó mà sự lớn mạnh của các triều đại phong kiến Trung Quốc đi kèm với nó là tư tưởng bá quyền và đòi hỏi sự thần phục của các nước lân bang. 


Với dân số gần một tỉ bốn trăm triệu dân, tức gấp hơn bốn lần dân số của Hoa Kỳ vốn chỉ gần 330 triệu, nếu Trung Quốc đạt được một trình độ phát triển ngang Hoa Kỳ thì đồng nghĩa tiềm lực kinh tế và quốc phòng của họ sẽ gấp bốn lần Hoa Kỳ. Với lợi thế về dân số đông và hệ thống chính trị tập quyền, Trung Quốc chỉ cần đạt được một trình độ phát triển tương đối, không cần ngang bằng với Hoa Kỳ, là đã đủ để họ cạnh tranh với Hoa Kỳ. 


Vấn đề của các lãnh đạo Hoa Kỳ hiện nay là làm sao để Hoa Kỳ tiếp tục duy trì vị trí lãnh đạo số một thế giới về cả kinh tế và quốc phòng. Kinh tế đi đôi với quốc phòng, vì với một nước có nền kinh tế mạnh họ dễ dàng đầu tư phát triển quốc phòng ngày càng mạnh hơn, dùng đòn bẩy kinh tế để đưa ra các định chế giao dịch trong kinh tế khiến các nước phụ thuộc, và sự giàu hơn của ngân sách giúp họ chi nhiều hơn để hỗ trợ các đồng minh và xây dựng các mối quan hệ mới. 


Trong cuộc chạy đua giữ vị trí siêu cường mà Trung Quốc đang đuổi theo rất sát ở phía sau, Hoa Kỳ dưới thời tổng thống Donald Trump đã thực thi một loạt các chính sách.


Đầu tiên là về nhân lực. Một quốc gia muốn hùng cường phải đầu tư vào nhân lực của xứ mình. Để đầu tư vào nhân lực, trước hết Hoa Kỳ phải kiểm soát dân số và tình trạng nhập cư lậu. Và để giảm tình trạng nhập cư lậu thì chính quyền cho xây tường dọc biên giới Mỹ và Mê-hi-cô. Tiếp theo, chính quyền cho gỡ bỏ chương trình quay số ngẫu nhiên để cấp thẻ định cư và chuyển sang thúc đẩy chương trình định cư cho nhân tài, những người có trình độ. 


Chính quyền Mỹ cố gắng chấm dứt những cuộc chiến tốn kém kéo dài vô bổ, tập trung ngân sách cho thành lập lực lượng không gian và đầu tư mạnh hơn nữa vào quốc phòng.  


Ở châu Âu, Hoa Kỳ kêu gọi lẫn làm áp lực để các đồng minh NATO tăng ngân sách quốc phòng lên ít nhất là 2% tổng thu nhập quốc dân (GDP) như cam kết trước đây nhằm làm cho liên minh mạnh hơn. 


Ở châu Á, Hoa Kỳ chính thức thực hiện chiến lược xoay trục về châu Á, một chiến lược mà thời tổng thống Barack Obama mới chỉ dừng ở mức ý tưởng và thăm dò các đồng minh. Hoa Kỳ thiết lập và dẫn đầu liên minh Ấn Độ - Thái Bình Dương nhằm bao vây Trung Quốc. Trong liên minh này, ngoài Mỹ, Ấn Độ, Nhật Bản, và Úc là nhóm cứng, sẽ có thêm Việt Nam và Indonesia là hai thành viên không chính thức. 


Trong nội địa, chính quyền Mỹ cho đóng cửa các viện Khổng Tử, lấy lý do là các viện này vừa là cơ quan giúp thu thập tin tình báo vừa là cơ quan tuyên truyền cho đảng Cộng sản Trung Quốc. Từ chỗ có hơn 100 viện Khổng Tử khi bắt đầu nắm quyền, cuối nhiệm kỳ của tổng thống Donald Trump, số viện Khổng Tử giờ chỉ còn chưa tới 60 viện. 


Mỹ cũng cho đóng cửa lãnh sự quán ở Houston vì cho rằng đây là đầu não chỉ huy lực lượng tình báo ăn cắp công nghệ. 


Cùng lúc, chính quyền Mỹ cũng bắt đầu ra soát và chặn các sinh viên đội lốt quân đội sang du học nhằm mục đích ăn cắp công nghệ cho quân đội Trung Quốc. Bắt các học giả, các trường đại học khai báo các ngân khoản được tài trợ bởi nước ngoài nhằm tránh việc nước ngoài ăn cắp công nghệ của Hoa Kỳ. 


Về kinh tế, chính quyền kêu gọi các công ty Mỹ ở Trung Quốc quay về sản xuất ở Mỹ. 


Mục tiêu trước mắt là giúp tạo công ăn việc làm cho dân Mỹ. Nhưng mục tiêu lâu dài hơn đó là tránh để các công ty Tàu ăn cắp công nghệ cũng như không cho công nhân Tàu học thao tác sản xuất công nghiệp theo công nghệ. 


Việc sản xuất ở Mỹ cũng giúp cho Mỹ không còn phụ thuộc vào Trung Quốc nữa, và như vậy sẽ làm yếu đi đòn bẩy về thương mại của Trung Quốc đối với Hoa Kỳ. 


Để khuyến khích các công ty Mỹ quay về Mỹ sản xuất, đầu tiên chính quyền cho giảm thuế doanh nghiệp. Tiếp theo đó chính quyền cho đánh thuế lên một số mặt hàng nhập khẩu từ Trung Quốc. Song song đó là tạo ra một bầu không khí rằng chiến tranh thương mại không hồi kết và khuyến khích các doanh nghiệp dịch chuyển khỏi Trung Quốc. 


Làm mọi cách để khiến các nước đồng minh không dùng công nghệ viễn thông 5G của Huawei và chặn Huawei trước khi nó trở thành một công ty công nghệ viễn thông khổng lồ có khả năng kiểm soát thế giới.


Tuy vậy, các biện pháp này chỉ có thể giúp Hoa Kỳ duy trì được ưu thế siêu cường trong một thời gian ngắn hạn, có thể chỉ chừng hơn 10 năm nữa. Với lợi thế về dân số và có một chính thể tập quyền được tổ chức tốt, nếu không có gì thay đổi, việc Trung Quốc vượt mặt Hoa Kỳ về khả năng kinh tế và quốc phòng là điều thấy được. 


Dân chủ hoá Trung Quốc để Trung Quốc trở thành một quốc gia văn minh và có trách nhiệm là một ý kiến hời hợt. Muốn xem một Trung Quốc dân chủ sẽ như thế nào thì cách tốt nhất là nhìn Đài Loan. Một Trung Quốc với dân số gấp bốn lần Hoa Kỳ, dân chủ và phát triển như Đài Loan tự bản thân nó đã trở thành siêu cường với tiềm lực kinh tế và quốc phòng gấp vài lần Hoa Kỳ. Hoa Kỳ và phương Tây còn lâu mới thần phục và chấp nhận phương án này.


Chọn lựa duy nhất của các nhà làm chính sách Hoa Kỳ mà bất kỳ một học giả nào cũng có thể thấy được đó là một ngày nào đó Hoa Kỳ sẽ phải cố gắng tách Trung Quốc ra thành những quốc gia nhỏ hơn. Nhưng để làm được điều đó thì đồng nghĩa với việc Hoa Kỳ và các đồng minh phải đủ mạnh hơn Trung Quốc. Nhưng còn bao lâu để Hoa Kỳ có thể đủ mạnh, có lẽ chỉ chừng 10 năm nữa. 


Nguyễn Huy Vũ

20.10.2020


*Bài viết đã lược bỏ đi những số liệu để tránh mất đi sự tập trung cho ý chính.