30.12.16

Văn hóa minh bạch và quyền tiếp cận thông tin

Với các bạn ở các nước dân chủ đủ lâu và có cơ hội làm việc liên quan đến các cơ quan tổ chức chính phủ lẫn xã hội, mọi người sẽ cảm nhận một điều rằng sự minh bạch và quyền tiếp cận thông tin luôn được đề cao.

Sự minh bạch chính nó đã trở thành một văn hóa phổ biến trong xã hội. Khi bạn điền đơn nộp hồ sơ xin việc, họ sẽ có mục hỏi bạn có bà con thân thích làm việc trong cơ quan không. Còn khi bạn nhận được một quyết định mà bạn cảm thấy không công bằng từ phía chính phủ hay bất cứ cơ quan nào đó, bạn có quyền khiếu nại và họ buộc phải trả lời cho bạn theo quy định hẳn hoi. Bạn đi khám bệnh nếu thấy hóa đơn có nhiều thắc mắc, bạn có quyền gửi đơn cho bệnh viện và họ có trách nhiệm trả lời chi tiết về số tiền họ tính cho bạn. Bạn đi siêu thị mua món đồ, món đồ về nhà kiểm tra bạn thấy nó hư hoặc không như ý của bạn, bạn có quyền đem món hàng nguyên vẹn đó trả lại siêu thị trong một khoảng thời gian nhất định và họ trả lại toàn bộ tiền cho bạn. Và nếu bạn theo dõi chính trị Mỹ thì mới đây, trong cuộc bầu cử Mỹ, khi phe Dân chủ nghi ngờ kết quả kiểm phiếu, họ có thể đóng tiền và chính quyền buộc phải mở kiểm phiếu lại.

Những ví dụ trên là những ví dụ về minh bạch. Nó hiện diện ở khắp mọi nơi trong xã hội, từ mua bán, làm việc, đến hoạt động chính quyền.

Với người ở xứ văn minh, đó như là điều hiển nhiên. Hiển nhiên đến mức nhiều người Việt mình ở các xứ tiến bộ trải nghiệm nó mà không hiểu nó là một sự minh bạch trong xã hội.

Nhưng sự minh bạch đó có lẽ là điều còn mới lạ ở Việt Nam, chúng ta chưa có một văn hóa đó. 

Minh bạch là một văn hóa dựng nên nhờ những quyền của con người: đó là quyền tiếp cận thông tin và quyền được đối xử công bằng. Với bất cứ những thông tin nào trong giao dịch, cá nhân trong xã hội có quyền tiếp cận thông tin và với bất cứ vụ việc nào họ cũng cần được đối xử công bằng. Có như vậy xã hội mới tiến bộ và văn minh.

Cả hai quyền tiếp cận thông tin và quyền được đối xử công bằng đều bị xâm phạm rất nghiêm trọng ở Việt Nam hiện nay. Đáng buồn là các hoạt động cổ vũ cho hai quyền này không được xiển dương rộng rãi ở Việt Nam hiện nay.

Chỉ khi cả hai quyền này được thực thi mạnh mẽ hơn thì các vấn nạn xã hội và đất nước mới dần giảm bớt. Về mặt xã hội, nó giúp giảm đi các hành vi ăn chặn tiền quyên góp, tham nhũng, lạm quyền, mua quan bán chức, cất nhắc người thân. Nó giúp hình thành văn hóa kinh doanh lương thiện, quảng cáo sản phẩm đúng thông tin. Nó giúp việc hình thành các hợp đồng rõ ràng, minh bạch. Nó giúp người dân hiểu quyền của mình và tiếp cận được thông tin khi quan hệ với các cơ quan chính quyền. Về mặt chính trị, nó là một văn hóa giúp kiến tạo nên một chính phủ dân chủ vì một chính phủ dân chủ phải xuất phát từ một cuộc bầu cử minh bạch. 

Vì tất cả các lợi ích của minh bạch đó mà người Việt cần hiểu và tự giành các quyền của mình, trong đó có quyền tiếp cận thông tin và quyền được đối xử công bằng, để tự dựng xây nên một nước Việt minh bạch, lương thiện, và văn minh. Đó là trách nhiệm của mỗi người trong việc hình thành nên một văn hóa chứ không ai khác. 

OL, 15.12.2016

Về văn hóa minh bạch tiền bạc của người Việt

Có một điểm dở trong văn hóa của người Việt đó là sự khó nói về tiền bạc trong các mối quan hệ. Một mối quan hệ mà dính đến tiền trước sau gì cũng dễ xích mích. Người Việt mình xem việc cho, nhận, chi tiền nhiều khi là một cái gì đó thuộc về tình cảm chứ không giống như nhiều người ở các xứ tiến bộ xem tiền như một vật trao đổi thuần túy trong hợp đồng giữa người với người.

Khi ra ngoài ăn uống, lúc chi trả hóa đơn, người mình khá lúng túng. Người thì dành trả vì thể diện, người thì ngại được trả cũng vì thể diện. Khi cho mượn tiền, người cho mượn không dám đòi vì sợ mất bạn, phần vì sợ người mượn bảo có nhiêu đó mà đòi, thằng này keo kiệt, bủn xỉn. Thành ra nhiều khi người cho mượn ráng nhịn. Còn về phần người mượn thì nhiều khi vì công việc bận quá mà quên, mà cũng có khi không có đủ tiền để trả nên cũng thành ra khó ăn khó nói nên lẳng lặng im luôn, có khi tránh mặt. Thành ra vậy mà mất đi mối quan hệ tốt đẹp. Vì chỉ khi mối quan hệ tốt đẹp tin nhau thì người ta mới cho mình mượn tiền.

Ở một khía cạnh khác, có khi người ta nhờ gửi tiền để mua cái gì đó hay chi chỗ nào đó, xong người gửi không dám hỏi. Vì nghĩ có bao nhiêu tiền đâu mà hỏi, mà nếu hỏi thì bị đánh giá là nhỏ mọn, nên im.

Nhiều lần tôi gặp nhiều người bạn, họ trách đất nước có nhiều cái tệ quá, xong khi nói đến tham nhũng họ bảo phải chi mấy ổng ăn mà mấy ổng làm được cũng đỡ, đằng này mấy ổng ăn không mà không làm.

Họ không phải là những người nghiên cứu kinh tế - chính trị hay xã hội nên không biết rằng khó có một nước nào trên thế giới mà phát triển được nếu bị tham nhũng hoành hành.

Nhiều người suy nghĩ như vậy lắm.

Nói vậy chỉ để nói lên một tâm lý rằng người Việt mình rất xuề xòa trong các minh bạch và tách bạch giữa tiền bạc và tình cảm. Và khi mình xuề xòa như vậy thành ra mọi người trong xã hội hình thành một cái nếp là rất xuề xòa về tiền bạc, thu chi, vay mượn, sao cũng được.

Đó là một văn hóa chúng cần dần dần thay đổi nếu chúng ta muốn trở nên là một xã hội công bằng, văn minh và giàu tình cảm hơn. Tại sao phải là công bằng? Trong ví dụ trên, khi mà mọi người cùng đi ăn thì về mặt công bằng họ phải có trách nhiệm trả khoản tiền mình ăn, trừ khi là bạn bè hay người thân mời khi có dịp. Tại sao văn minh? Như ví dụ ở trên khi mình mượn tiền thì mình có trách nhiệm trả tiền và người cho mượn có quyền hỏi. Chúng ta nên coi điều đó như một hành động bình thường nằm ngoài tình cảm. Tại sao lại giàu tình cảm hơn? Vì khi cả hai hiểu nhau rằng vay mượn phải trả hợp lý hoặc gửi tiền thì có quyền hỏi và người nhận nên trả lời thì không ai phải giận ai, tình bạn sẽ hiểu nhau hơn.

Những điều đó cần hình thành nên một văn hóa, văn hóa cư xử trong các giao dịch về tiền bạc. Chúng ta hiện nay chưa có văn hóa đó và chúng ta cần phải ý thức và xây dựng.

Muốn có được một văn hóa cư xử trong các giao dịch về tiền bạc thì điều đầu tiên là mọi người cần làm quen với văn hóa minh bạch trong giao dịch tiền bạc. Đó cũng là lý do mà người viết bài này cổ vũ cho sự minh bạch trong thu chi của các hoạt động thiện nguyện.

Chúng ta và xã hội sẽ nhận được nhiều ích lợi từ các hành động minh bạch này.

Thứ nhất, việc đòi hỏi minh bạch trong từ thiện chính nó sẽ tạo một tiền lệ trong các hoạt động xã hội từ rày về sau rằng những cá nhân và tổ chức quyên góp tiền cho các hoạt động xã hội cần phải có trách nhiệm minh bạch số tiền thu chi hoặc đúng với cam kết ban đầu của mình. Nếu để ý bạn sẽ thấy một điều rằng các hội nhóm thiện nguyện khác đã bắt đầu công bố các con số thu chi. Đó là một tín hiệu tốt. Dần dần mọi người sẽ quen với việc minh bạch thu chi trong các hoạt động xã hội.

Thứ hai, nó cũng tạo một tiền lệ rằng những người gửi tiền cho các hoạt động xã hội và cộng đồng có quyền giám sát và đòi hỏi người nhận tiền thực hiện đúng như cam kết ban đầu.

Thứ ba, khi môi trường trở nên minh bạch và rõ ràng, nó sẽ khiến cho những người lương thiện và tử tế khi thực thi các hoạt động xã hội được tôn vinh và coi trọng một cách xứng đáng, chứ không còn bị nghi ngờ này nọ.

Thứ tư, thiện nguyện là một điều tốt và những người làm điều tốt, vì trách nhiệm cộng đồng, xã hội đều đáng được tôn vinh. Không phải ở bất cứ lĩnh vực nào chính phủ cũng có thể can thiệp được, và ở những điểm mà chính quyền khó với tới hoặc thực hiện không hiệu quả, cần có sự can thiệp của các hội đoàn dân sự. Bất cứ một hoạt động thiện nguyện hay hoạt động xã hội nào cũng cần tài chính, không thể làm gì được nếu không có tiền. Và khi mà các hoạt động xã hội được mọi người tin tưởng tuyệt đối, quyên góp tài chính hỗ trợ mạnh mẽ, thì đất nước mới có cơ hội phát triển.

Thứ năm, việc các tổ chức và cá nhân quyên góp tiền nhanh chóng minh bạch hóa và ghi nhận các khoản đóng góp của các nhà hảo tâm ở đó còn thể hiện một văn hóa khiêm nhường trong việc trân trọng tiền bạc và tình cảm chia sẻ của những người đóng góp. Về lâu về dài, điều này giúp tạo nên một tiền lệ tốt và giúp hình thành nên một văn hóa tốt trong xã hội của Việt Nam – một văn hóa khiêm nhường và quý trọng tiền bạc, tình cảm của những người chia sẻ tấm lòng. Ở các công trình công cộng ở Mỹ như công viên, bảo tàng, nhà quản lý luôn để những tấm bảng bé bé đề tên người hiến tặng. Điều đó thể hiện một văn hóa khiêm nhường và trân trọng người hiến tặng thiện nguyện.

Thứ sáu, việc minh bạch chính nó sẽ giúp hình thành nên một văn hóa lương thiện và giúp xây dựng niềm tin trong xã hội Việt Nam nơi niềm tin giữa người và người của chúng ta đang ngày càng bị mai một, khi không ai tin ai trong xã hội. Người dân không tin lẫn nhau, chính quyền không tin người dân, và người dân không tin cả chính quyền.

Thứ bảy, khi mà người dân chúng ta đòi hỏi được một sự minh bạch trong các hoạt động xã hội dân sự của mình và từ từ xây dựng nên một văn hóa minh bạch trong việc đưa và nhận tiền thì đó là bước đầu tiên để chúng ta xây dựng nên một văn hóa minh bạch trong các giao dịch tiền bạc ở cấp xã hội. Đó là nấc thang đầu tiên trước khi chúng ta có thể tiến tới đòi hỏi một sự minh bạch hơn trong chi tiêu của chính quyền. Người dân không những có quyền đòi hỏi từng đồng tiền quyên góp của mình dùng vào việc gì cho thiện nguyện, mà việc này còn giúp đặt một tiền lệ để sau này mọi người có quyền đòi hỏi từng đồng tiền thuế của mình được tiêu xài ra sao.

Khi một đất nước ngày càng minh bạch và lương thiện, từ xã hội đến chính quyền, người ta đưa và nhận, tin tưởng và minh bạch từng đồng tiền, một cách cẩn trọng và khiêm nhường trong hành động thì đó sẽ là một vốn quý về văn hóa của đất nước đó.

Khi đó người hoạt động xã hội quyên góp tiền được tin yêu, quan chức chính phủ được tin tưởng, người và người cho, nhận, và mượn trong sự minh bạch và tôn trọng. Đó thật sự là một xã hội văn minh.

Vì vậy đó là trách nhiệm của mọi người trong góp tay để làm minh bạch hóa những nghi vấn trong các hoạt động nhận và chi tài chính của các tổ chức xã hội, và ở đây bắt đầu từ các dự án từ thiện, từ nay trở về sau.

OL, 9.12.2016

7.12.16

Quan điểm về chính sách ngoại giao của Donald Trump


Muốn biết những quan điểm về ngoại giao của Donald Trump, tổng thống mới đắc cử của Hoa Kỳ, có lẽ những người bình luận nên đọc qua hai cuốn sách về chính sách công của ông, đó là cuốn “The America We Deserve” (Nước Mỹ Mà Chúng Ta Xứng Đáng Có) xuất bản tháng Giêng năm 2000 và “Time to Get Tough” (Đã Đến Lúc Phải Cứng Rắn) xuất bản tháng 12 năm 2011. Dù khen hay chê về các chính sách thì đó là hai cuốn sách về chính sách công đúng nghĩa, bàn về các vấn đề của nước Mỹ và các chính sách mà ông coi là có thể giải quyết nó, từ tội phạm tràn lan, đến chất lượng giáo dục, nợ công cao ngất ngưỡng cho đến quan điểm trong chính sách đối ngoại của ông. Lẽ dĩ nhiên, nếu không có thời gian thì có thể đọc tóm tắt điểm chính của các chương.

Dừng một chút để nói về văn hóa chính trị Mỹ đó là các chính trị gia, nhất là các ứng cử viên ra tranh cử tổng thổng, họ luôn có một ý niệm về các chính sách họ muốn triển khai nhằm giải quyết các vấn đề của đất nước, và đôi khi cũng để thu hút cử tri. Việc xuất bản các chính sách này thành những quyển sách nghiêm túc không những đóng góp vào hiểu biết chính trị của đại chúng mà còn là một kênh tương tác giữa những nhà lãnh đạo với thường dân, để cho người dân biết rằng những nhà lãnh đạo muốn dẫn dắt đất nước mình tới đâu. Đó là một văn hóa tốt mà những cá nhân muốn dấn thân vào con đường chính trị của Việt Nam cần học tập. Hãy suy nghĩ khi mình ở vị trí lãnh đạo đâu là những quyết sách mình sẽ giải quyết, tìm các lời giải và chia sẻ với toàn dân.

Nhiều người phê phán và bất ngờ khi Donald Trump thắng cử.Trong số người đó, có lẽ phần lớn không đọc hai quyển sách này của ông. Nếu đọc họ sẽ có một ý niệm khác về người đàn ông này. Một cách ngắn gọn ông là một người đàn ông mạnh mẽ, mưu lược, và rất kiên nhẫn trong các quyết định của mình. Cuốn sách đầu tiên, The America We Deserve, xuất bản tháng Giêng năm 2000 khi ông quyết định ra tranh cử tổng thống ở vị trí là một ứng viên của Đảng Cải Cách (Reform Party), để rồi cuối cùng mất vị trí đề cử về tay Pat Buchanan và Buchanan sau đó thất cử trước George W. Bush. Cuốn sách rất nghiêm túc về chính sách công là một phản biện lại những chỉ trích cho rằng ông là một ứng cử viên không nghiêm túc. Hơn mười năm sau, tháng 12 năm 2011, ông xuất bản cuốn sách thứ hai để chuẩn bị cho cuộc chạy đua lần thứ hai. Cuối cùng ông quyết định không ra tranh cử và đoán Mitt Romney sẽ thua Obama. Có lẽ ông tính được rằng năm 2012 chưa phải là một thời cơ tốt.

Ở bài này chỉ bàn về các quan điểm về chính sách ngoại giao của ông, chứ không phải bàn về chính sách đối ngoại. Vì vài lẽ. Thứ nhất, đó là cho đến lúc viết bài này thì ngoại trưởng tương lai chưa được chọn và chính sách ngoại giao chưa được thành hình lẫn thực thi. Thứ hai đó là Donald Trump là một người hay thay đổi ý kiến. Đọc các đề xuất chính sách trong hai cuốn sách xuất bản cách nhau 10 năm để thấy rằng quan điểm của Donald Trump có khá nhiều sự thay đổi. Vì vậy mà khoảng thời gian kể từ khi xuất bản cuốn sách gần nhất, Time to Get Tough, cho đến nay đã được 5 năm, những quan điểm ngoại giao có lẽ cũng thay đổi ít nhiều. Và đến khi quan điểm ngoại giao của Donald Trump tương tác với nội các của mình thì sự thay đổi đó cũng sẽ lớn hơn nữa.

Vì vậy mà bài này chỉ, một cách khiêm tốn, dám bàn tới quan điểm ngoại giao của ông và gói gọn trong những đề xuất trong hai cuốn sách.

Nếu văn là người thì đọc hai cuốn sách của ông bạn sẽ hiểu phần nào tính cách. Các câu văn được viết dưới dạng văn nói, ngắn, không trau chuốt ngôn ngữ, thẳng thừng và đôi khi mang tính thách thức. Chẳng hạn khi bàn về tội phạm ông hỏi thẳng những người lên án việc thắt chặt luật lệ hơn dẫn đến việc giam giữ nhiều tội phạm hơn rằng họ muốn nhận bao nhiêu thằng tội phạm chuyển về khu mình ở? Và ông phán gỏn lọn rằng: Không.

Ông cho rằng một tổng thống Mỹ nên là một dealmaker (người quyết định từng thương vụ) thay vì là một chess player (người chơi cờ). Vì đơn giản rằng trong thế giới hiện đại khó mà có một chính sách ngoại giao chung chung được.

Khác với chess player vốn là một người phải chơi theo chiến lược và chiến thuật định sẵn, một dealmaker là một người giữ nhiều quả bóng, đánh giá lợi ích cạnh tranh của các quốc gia khác nhau, và luôn luôn đặt lợi ích nước Mỹ lên hàng đầu. Một dealmaker biết khi nào nên tiến và khi nào nên lùi, khi nào thì chân thật và khi nào thì hăm dọa, và anh ta phải hiểu rằng một khi anh ta hăm dọa thì phải chuẩn bị để thể hiện sự hăm dọa đó. Một dealmaker rất xảo quyệt, giấu giếm, tập trung, và không bao giờ chịu dàn xếp nếu anh ta nhận ít hơn điều anh ta muốn.

Trong lịch sử nước Mỹ, chỉ có hai tổng thống là dealmaker, đó là Franklin Roosevelt, người dẫn nước Mỹ qua khỏi Thế chiến thứ 2 và người còn lại là Richard Nixon người đẩy nước Nga tới bàn đàm phán để đưa đến việc cắt giảm vũ khí hạt nhân. Và nước Mỹ từ rất lâu rồi chưa có một tổng thống là một dealmaker như vậy.

Có lẽ vì một quan điểm như vậy mà chính sách ngoại giao của nước Mỹ tương lai càng khó đoán.

Về quan điểm trong chính sách đối ngoại trong cuốn The America We Deserve, có ba ý chính, đó là: một, hãy cứng rắn hơn nữa với Trung Quốc, chúng ta đang quá sẵn lòng để làm vừa lòng họ; hai, sự thiếu quyền con người ở Trung Quốc ngăn ngừa sự phát triển thị trường tiêu dùng; và ba, hỗ trợ Nga, nhưng cần kèm theo các điều kiện.

Ông khẳng định Trung Quốc là thách thức lâu dài lớn nhất của Hoa Kỳ. Dù không thừa nhận, Trung Quốc muốn Hoa Kỳ đầu tư vào Trung Quốc. Và mặc dù Hoa Kỳ có lợi thế tay trên, Hoa Kỳ đã quá dễ dàng làm vừa lòng Trung Quốc. Hoa Kỳ nhìn Trung Quốc như một thị trường tiềm năng và thỏa mãn Trung Quốc để đánh đổi lại quyền lợi quốc gia của chính mình. Chính sách đối với Trung Quốc dưới triều của tổng thống Clinton và Bush đó là hướng đến việc thay đổi chế độ của Trung Quốc bằng các động lực về kinh tế và chính trị, tuy ý định có vẻ tốt nhưng rõ ràng thì cuối cùng chẳng có gì thay đổi.

Đề cập đến vấn đề nhân quyền, ông cho rằng là một doanh nhân như mình thì ông có thể ngó lơ chuyện nhân quyền. Và khi mà đụng tới nó thì rõ ràng người Mỹ khó có thể làm được gì nhiều để thay đổi chính sách đối nội của một quốc gia. Nhưng ông thể hiện một thái độ rõ rệt rằng không muốn bỏ qua chuyện đàn áp công dân mình của chính phủ Trung Quốc, bởi theo ông các chính sách đàn áp nhân quyền của chính quyền Trung Quốc cho thấy rằng Trung Quốc coi thường lối sống của người Mỹ, lối sống tôn trọng tự do và nhân phẩm. Ông cũng nhấn mạnh rằng nước Mỹ sẵn lòng giao thương với Trung Quốc, nhưng không phải để đánh mất đi những giá trị cốt lõi của người Mỹ, và người Mỹ không nên mở cửa bằng bất cứ giá nào cho những quốc gia đi ăn cắp của người Mỹ.

Đối với Nga, quan điểm của ông rõ ràng hơn, ông cho rằng Nga và các nước nhận viện trợ rằng nếu họ muốn nhận tiền của người Mỹ họ phải hòa cùng nhịp với các chính sách của nước Mỹ, phải nhảy cùng một nhịp với nước Mỹ, ít nhất là ở các vấn đề liên quan đến an ninh quốc gia. Và họ cần người Mỹ hơn là người Mỹ cần họ. Nước Mỹ có lợi thế đòn bẩy và thật là điên rồ mới không sử dụng nó để đạt được lợi thế tốt hơn.

Trong Time to Get Tough, Donald Trump đi xa hơn trong thái độ với Trung Quốc. Ông nói thẳng rằng Trung Quốc là kẻ thù của nước Mỹ, ăn quịt nước Mỹ hàng trăm tỉ đô la bằng cách điều chỉnh và phá giá đồng tiền của mình. Mặc cho những cuộc nói chuyện có vẻ vui vẻ ở Washington thì các lãnh đạo Trung Quốc không phải là bạn của nước Mỹ.

Khi nhận những lời chỉ trích từ những người khác rằng tại sao lại gọi Trung Quốc là kẻ thù, ông lập luận rằng: “chúng ta có thể gọi họ là gì khi họ đang phá hủy tương lai của con và cháu chúng ta? Chúng ta thích gọi họ là gì khi họ khiến chúng ta phá sản, họ ăn cắp công việc của chúng ta, họ dùng tình báo để lấy trộm công nghệ của chúng ta, họ phá hoại đồng tiền của chính ta, và họ phá hủy lối sống của chúng ta?” Và với ông, họ là kẻ thù. Ông cho rằng nếu người Mỹ muốn nước Mỹ trở thành số một một lần nữa, thì người Mỹ phải có một tổng thống phải biết cứng rắn với Trung Quốc, biết thương thuyết thắng Trung Quốc, và khiến họ không thể áp lực người Mỹ ở bất cứ chỗ nào.

Ông cũng cho rằng nếu không có gì ngăn chặn việc chuyển các dự án sang Trung Quốc, và giúp giữ các công việc cho người Mỹ, thì trước năm 2027, Trung Quốc sẽ qua mặt Hoa Kỳ trở thành nền kinh tế lớn nhất.

Ông chỉ trích chính sách ngoại giao của Obama là lừa phỉnh các đồng minh Đông Âu, rằng khi Obama nhận chức, ông gửi một nhân viên hàng đầu đến Moscow (Mat-xcơ-va) đem theo một bức thư tuyệt mật gửi tổng thống Nga lúc đó mà Dmitry Medvedev. Trong thư nói rằng Obama sẽ rút lui, không khai triển hệ thống phòng thủ tên lửa mới ở Đông Âu nếu Nga ngừng ủng hộ Iran phát triển những vũ khí tầm xa. Putin nghe vậy, sướng quá, bảo quyết định mới nhất của tổng thống Obama có những ảnh hưởng tích cực và Putin hi vọng rằng sau quyết định đúng đắn và dũng cảm này sẽ có những quyết định khác nữa. Ông kết luận rõ ràng là nội các Obama đã phản bội những đồng minh Ba Lan và Cộng hòa Séc của mình bằng cách ném họ ra khỏi chiếc xe buýt một cách trần truồng đối diện với các cuộc tấn công bằng tên lửa, mặc dù không có một cam kết công khai nào Moscow sẽ giúp chấm dứt các chương trình tên lửa tầm xa của Iran lại.

Nếu có một tóm tắt ngắn gọn về quan điểm ngoại giao của Donald Trump xuyên suốt hai cuốn sách của mình đó là: một, đặt quyền lợi nước Mỹ trước hết; hai, cứng rắn hơn với Trung Quốc và thậm chí coi Trung Quốc là kẻ thù, là đối thủ nguy hiểm nhất; ba, Nga không đáng sợ, nước Mỹ có thể cùng Nga “nhảy chung một nhịp” và người Nga cần người Mỹ hơn là ngược lại; và bốn, không bỏ qua các đàn áp nhân quyền của các chính phủ vì đó là đi ngược lại và coi khinh những giá trị của người Mỹ.

Trên đây là những quan điểm ngoại giao của Donald Trump trong hai cuốn sách của mình, còn đâu là chính sách ngoại giao của ông thì hãy chờ xem trong những ngày sắp tới.

OL, 8.12.2016

3.12.16

Niềm tin và tiền

Kể các bạn chuyện này. Trong đầu tư chứng khoán có một loại kiếm tiền gọi là short-sell, hay bán khống. Nếu như bình thường mình mua một cổ phiếu giá 50 đồng, thuật ngữ gọi là long stock, mà năm sau giá cổ phiếu nó tăng lên 100 đồng thì mình lời 50 đồng, hay gọi là lời 100%. 

Còn bán khống (short-sell) thì chỉ khi cổ phiếu nó xuống giá thì mình có lời. Ví dụ vầy: mình bán khống một cổ phiếu giá hiện thời là 100 đồng, cuối năm giá thị trường nó còn 50 đồng, thì mình vẫn có quyền bán người ta với giá 100 đồng, hưởng 50 đồng tiền lời. Khi đóng hợp đồng thì mình chỉ việc mua cổ phiếu với giá 50 đồng để đóng, thuật ngữ tiếng Anh gọi là buy to cover.

Bán khống chỉ có lời khi giá cố phiếu xuống. Vì vậy mà một số hãng chỉ chuyên bán khống và sau khi họ đã vào hợp đồng bán khống, họ làm mọi cách để giá cổ phiếu giảm mà họ hưởng lợi.

Dưới đây là một câu chuyện như vậy.

Carlson Block học luật, nhưng sau đó anh bỏ nghề luật sư mà qua Trung Quốc làm cho các hãng đầu tư kiếm tiền.

Sau anh về Mỹ lập ra công ty Muddy Waters Research chỉ chuyên bán khống cổ phiếu. Muddy Water nghĩa là nước bùn và theo anh phân tích thì trong các môi trường như vậy dễ bắt cá. Các “con cá” của anh là các công ty Trung Quốc làm ăn ma giáo hồ sơ sổ sách nhưng được lên sàn chứng khoán ở thị trường Mỹ.

Dưới đây là một phi vụ bán khống cổ phiếu của Muddy Waters Research. NQ là tên cổ phiếu (ticker) của NQ Mobile Inc, công ty Trung Quốc chuyên bán các phần mềm qua điện thoại ở Trung Quốc và lên sàn chứng khoán Mỹ.

Sau khi Muddy Waters Research bán khống một lượng cổ phiếu lúc NQ Mobile tăng giá lên cực đỉnh gần 25 đô la Mỹ một cổ phiếu, thì ngay lập tức sau đó họ tung ra thị trường một bản báo cáo tố cáo NQ Mobile gian dối hồ sơ sổ sách, không có thu nhập thật, và quan trọng hơn là số tiền mặt rất ít để có thể tồn tại. Ngay lập tức giá cố phiếu từ mức gần 25 đô lao dốc trong một ngày xuống mức chỉ hơn 10 đô la/một cổ phiếu, một mức giảm hơn 50% chỉ trong một phiên. Trong phiên đó các giao dịch của NQ có lúc ngừng lại, không được khớp lệnh.

Giám đốc của NQ, vốn trước đây từng là cựu quản lý của Samsung, lên truyền hình phân bua về sự minh bạch của giấy tờ, sổ sách. Để chứng minh rằng NQ còn tiền, ban giám đốc còn gửi một lượng tiền mặt vào một ngân hàng để chứng minh. Hai bên Muddy Waters Research và NQ tiếp tục tranh cãi sau đó. Về phía các nhà đầu tư, trước những lùm xùm, họ rút chạy khỏi NQ. Và giờ đây mỗi cổ phiếu của NQ chỉ còn ở mức 3,31 đô la Mỹ. Tức NQ muốn quay trở lại thời huy hoàng thì họ phải tăng gần 800%. Còn Muddy Waters Research với Carlson Block thì bỏ túi bộn tiền.

Kể câu chuyện cho các bạn chỉ để nói rằng niềm tin có giá trị rất lớn, thậm chí về mặt tiền bạc. Mất niềm tin thì bạn sẽ không còn gì cả.

OL, 4.12.2016



 

Từ thiện để làm gì?

Đó là một buổi chiều hè ngày thứ sáu Luân Đôn, bữa học cuối cùng của một khóa học về kinh tế vĩ mô tại trường LSE. Sau khi chia tay những người bạn, tôi chầm chậm bước về khách sạn của mình. Trời Luân Đôn chiều cuối tuần đi dạo rất thích.

Trời mát mát, mọi người hối hả về nhà, thỉnh thoảng ngang qua những cổng metro hay bắt gặp những anh chị ôm chầm lấy nhau, quấn quýt và trao những nụ hôn. Ngang qua một siêu thị, ngay góc tường có một bác già ngồi để cái cốc bằng giấy ăn xin, loại cốc dùng một lần người ta hay dùng để uống coca-cola trong các tiệm ăn nhanh.

Bỗng từ bên kia đường, một anh thanh niên, tuổi độ hơn 20, tay cầm một cốc coca-cola, tay kia cầm một bịch McDonald trong có đầy đủ hamburger và khoai tây chiên chạy vọt băng qua đường mặc cho những làn xe qua lại. Anh nhẹ nhàng đặt ly nước coca-cola và bịch McDonald xuống bên ông già rồi chưa kịp để ông đưa lời cám ơn, anh vụt chạy đi. Tất cả diễn ra trong một chớp mắt trước mặt tôi. Tôi sững sờ, đáng yêu quá.

Đáng yêu vì một hành động đẹp diễn ra một cách đột ngột, không mong đợi trước mắt mình. Còn chuyện nhường cho nhau những miếng ăn thì tôi đã từng gặp và chính tôi cũng thường xuyên làm. Ngày ở Sài Gòn, thỉnh thoảng khi ăn cơm, thấy mấy người già bán vé số hay ăn xin tôi thường mời cơm. Ngày bé, không có tiền, buổi trưa thường có người ăn xin ghé nhà, tôi vào bới cho tô cơm, thêm thức ăn, mời ông hay bà cụ. Ăn xong, tôi vào nhà vét mấy lon gạo bỏ vào cái giỏ rồi tiễn đi. Tất cả như một sự tự nguyện với ước mong rằng họ sẽ đỡ khổ hơn.

Tháng 6 năm 2010, Bill Gates cùng với Warren Buffett, hai tỉ phú giàu nhất nước Mỹ khởi xướng một chiến dịch thiện nguyện to lớn lấy tên là Giving Pledge và bắt đầu tuyển các thành viên của chiến dịch. Những thành viên tham gia chiến dịch này phải cam kết cho đi phần lớn tài sản của mình cho thiện nguyện, riêng Warren Buffett cam kết cho đi 99% tổng số tài sản của mình.

Mỗi người khi tham gia chiến dịch tự quyết định số tài sản cho đi và nơi mình sẽ cho số tiền đó. Điểm chung là một đa số tài sản của họ sẽ được cho đi và nó sẽ được dùng cho các mục đích làm cho thế giới tốt đẹp hơn. Mục tiêu của việc tuyên bố rộng rãi một chiến dịch như vậy là nhằm làm cho hành động bố thí trở nên cởi mở hơn và tạo một bầu không khí để nhiều người cùng có thể tham gia.

Ở Việt Nam, khi những hình ảnh đầu tiên về cơn lũ của miền Trung xuất hiện, một số cá nhân vì nóng lòng cứu giúp những đồng bào của mình đã vận động kêu gọi cộng đồng quyên góp để mình thay mặt cứu trợ.

Với những người thật lòng thương xót đồng bào mình, đó là một tấm lòng rất quý. Họ là những người không quản khó khăn giúp chuyên chở số tiền từ các mạnh thường quân đến tay người cần hỗ trợ. Người góp sức, người góp công.

Ở đây, phải thắng thắn với nhau một điều rằng khi anh đứng ra tuyên bố quyên góp rằng anh giúp nhận tiền để chuyển cho các gia đình khó khăn, đó là một hợp đồng không chính thức rằng số tiền mà các nhà hảo tâm gửi đó sẽ được chính anh gửi cho những hoàn cảnh như cam kết. Đó là một sự tự nguyện của chính anh, hay tấm lòng của anh, dành cho những mảnh đời đói khổ, như biết bao những con người làm từ thiện bởi vì họ chỉ mong rằng thế giới này sẽ tốt đẹp hơn mà không mong một sự báo đáp.

Tuy vậy, không khó để nhận ra một điều rằng những con người thật lòng làm điều tốt và cho đi hẳn cũng sẽ nhận lại những điều may mắn và hạnh phúc nơi mình.

Những ngày qua, theo dõi những lùm xùm quanh vụ minh bạch từ thiện của MC Phan Anh tôi thấy khá buồn. Việt Nam có quá nhiều điều đáng để bàn thay vì cứ xoay quanh một chủ đề minh bạch từ thiện. Là một người trung lập, tôi đứng ngoài và cố theo dõi phản ứng của cả hai bên, nhưng rồi cuối cùng tôi thấy có gì đó khó hiểu trong câu chuyện minh bạch mà đáng ra là không nên có. Và vì vậy mà cần phải góp tiếng nói.

Một giải pháp dễ dàng nhất cho Phan Anh để làm sáng tỏ thay vì phải lên BBC hay VietNamNet để chia sẻ là mở tài khoản ngân hàng nhận tiền ra, song song đó là live stream và hướng camera về phía tài khoản của mình, vừa thuyết minh vừa cho mọi người thấy con số. Một giải pháp nhanh chóng và tất cả đều minh bạch.

Về các khoản chi tiêu, Phan Anh cũng có thể lập một page rồi chụp các hóa đơn, và đăng lên page, mọi người sẽ giúp cộng trừ. Một hành động chụp và đăng hóa đơn như vậy tốn không tới 2 phút và không dài hơn hành động selfie và chụp hình mà Phan Anh hay đăng.

Riêng về trang web tuthiendelamgi.com thì rõ ràng một trang web dùng wordpress thì tốn thời gian không quá một buổi để thiết lập. Chỉ cần một tên miền và chọn một máy chủ có hỗ trợ wordpress, tất cả sau đó coi như xong. Còn nếu muốn làm miễn phí và nhanh chóng hơn nữa thì chỉ cần lập một trang blogspot, bỏ các tập tin vào một tài khoản dropbox miễn phí, và đăng lên blogspot. Tất cả các thao tác này chưa tới 30 phút đồng hồ.

Khi vào trang tuthiendelamgi.com theo dõi thì thấy tập tin gọi là sao kê thông tin giao dịch nhưng chữ thì rất bé không thể thấy, thậm chí khi phóng đại lên mức tối đa là 5 lần. Một điểm nữa là thông tin xóa luôn tất cả cả tên người gửi và cả số tài khoản ngân hàng, nên không ai biết là ai gửi và bao nhiêu. Đúng ra thì nên chừa một chữ trong họ tên và vài số cuối cùng của tài khoản người gửi, như vậy vừa có thể bảo mật, mà vẫn có thể cung cấp thông tin.

Một điểm nữa tôi cũng không hiểu được đó là tại sao Phan Anh lại vội vàng đóng tài khoản nhận tiền và chuyển toàn bộ số tiền sang tài khoản mới đồng đứng tên với Đỗ Minh? Vì làm như vậy thì những nhà hảo tâm gửi tiền khi họ muốn xem Phan Anh đã thực hiện các giao dịch nào giữa chừng trước khi chuyển sang tài khoản mới thì sao họ kiểm tra và làm sao Phan Anh có thể minh bạch cho họ các hoạt động trước khi đóng tài khoản này? Làm sao Phan Anh hóa giải sự nghi ngờ khi họ cho rằng số tiền gửi vào nhiều hơn và Phan Anh đã gửi một số đi chỗ khác hay họ nghi ngờ các giao dịch tương tự?

Thay vào đó, nếu ngại chuyện các giao dịch tiếp tục gửi tiền tới thì Phan Anh có thể nhờ ngân hàng phong tỏa tài khoản không nhận tiền gửi tới là xong, mà không cần phải đóng tài khoản lại.

Và cuối cùng, đúng ra, với một người nhận tiền của những nhà hảo tâm trong cam kết chuyển tới các đồng bào nghèo khó của mình, cần ở đó sự khiêm tốn vì cuối cùng thì số tiền phần lớn đó là đại diện cho những tấm lòng của nhiều người, đáng được trân trọng.

Tất cả ở trên cũng chỉ là những góp ý với ước mong rằng cuối cùng thì từ thiện đúng nghĩa là hai từ cao đẹp ở Việt Nam, và những người làm từ thiện là những người đáng được tin yêu và trân trọng.

OL, 3.12.2016

Tiền Đồng có giá bao nhiêu?

Sáng ngày 3/12/2016, giá đô la Mỹ trên thị trường tự do đã tăng lên con số hơn 23,000 Việt Nam Đồng ăn một đô la Mỹ. Mức tăng giá này sẽ không phải là cuối cùng, và nó sẽ tiếp tục tăng nữa trong những ngày sắp tới, vì thực ra tiền Đồng đang được định giá quá cao so với đồng đô la Mỹ. Vậy, tỉ giá hợp lý sẽ là bao nhiêu hay đâu là giá trị của một đô la Mỹ ở Việt Nam?

Với những người ở Việt Nam bỏ tiền đồng để mua đô la Mỹ, như bao mặc hàng được bán mua khác, đô la Mỹ nghiễm nhiên trở thành một loại hàng hóa đặc biệt, hàng hóa tiền tệ.

Và khi đã là hàng hóa thì giá trị của hàng hóa sẽ tùy thuộc vào hai yếu tố chính đó là nhu cầu hiện tại và kỳ vọng tương lai. Hai yếu tố này sẽ quyết định mức độ cung-cầu của hàng hóa trong thị trường và xác định mức giá cân bằng.

Vậy đâu là những nhân tố chính ảnh hưởng đến mức cung-cầu và sau đó là giá trị của một đồng tiền theo thời gian? Có 6 nhân tố chính:

Một là lạm phát. Giữa hai nước, một nước có lạm phát thấp và một nước có lạm phát cao, thì giá trị của đồng bạc của nước có lạm phát thấp tăng cao hơn nước có lạm phát cao theo thời gian. Vì đơn giản là những người gửi tiết kiệm không muốn tiền mình nhanh mất giá trị theo thời gian nên họ thích giữ tiền ở đồng bạc nào ít bị giảm giá trị nhất.

Hai là lãi suất. Khi lãi suất một nước cao, các nhà đầu tư đổ tiền vào đầu tư nhằm nhận được lợi suất lớn. Điều đó đồng nghĩa rằng các nhà đầu tư sẽ cần đổi tiền sang nước sở tại khiến nhu cầu tiền tăng lên và đẩy tỉ giá hối đoái lên cao.

Ba là thâm hụt tài khoản vãng lai. Tài khoản vãng lai được định nghĩa là tổng thu trừ cho tổng chi trong tất cả các hoạt động ngoại thương của một nước với các nước còn lại trong một khoảng thời gian, ví dụ như ba tháng hoặc một năm. Khi tổng thu được từ các hoạt động xuất khẩu trừ đi tổng chi ra cho các hoạt động nhập khẩu là một con số dương, ta nói là tài khoản vãng lai được dôi ra, ngược lại là thâm hụt.

Khi tài khoản vãng lai bị thâm hụt nghĩa là số tiền để nhập khẩu nhiều hơn số tiền có được nhờ xuất khẩu, và do đó, để trang trải lượng tiền thâm hụt đó, nhà nước cần phải mua thêm ngoại tệ để trả thêm tiền nhập khẩu. Nhu cầu ngoại tệ tăng dẫn đến tỉ giá của ngoại tệ tăng, và đồng bạc trong nước mất giá.

Bốn là nợ công. Quốc gia có mức nợ công cao thì đồng tiền thường có xu hướng mất giá. Đối diện với một mức nợ công quá cao, chính phủ có một vài cách giải quyết. Cách đầu tiên là in tiền trả nợ, và làm vậy thì lạm phát tăng nhanh chóng khi lượng cung tiền tăng vọt. Cách thứ hai là bán ồ ạt trái phiếu, hay tài sản nhà nước, và việc bán tháo nhanh chóng như vậy sẽ khiến cho giá trị của những tài sản kiểu này giảm đi rõ rệt. Cách thứ ba là tuyên bố phá sản hay khất nợ, nhà nước không thể trả nợ hoặc chỉ có thể trả một phần. Trong cả ba rủi ro trên thì việc bỏ tiền vào đầu tư ở một nước nợ công đầm đìa là cực kỳ may rủi và nợ càng cao thì các nhà đầu tư nước ngoài lại càng ngại giữ tiền hay tài sản dưới dạng tiền của quốc gia đó. Hiệu ứng đó, do đó, đẩy giá trị của đồng tiền xứ này xuống thấp.

Năm là tỉ giá mậu dịch (terms of trade). Tỉ giá mậu dịch được định nghĩa là tỉ số giữa chỉ số giá hàng xuất khẩu trên chỉ số giá hàng nhập khẩu của một nước, hay nôm na là số lượng hàng hóa có thể mua nhập về với số tiền có được khi xuất khẩu bán ra ngoài một đơn vị hàng hóa.

Tỉ giá này phản ánh quan hệ mậu dịch như sau: khi tỉ giá này tăng, có nghĩa là cùng một lượng hàng chúng ta bán ra chúng ta mua được nhiều hàng về, và ngược lại.

Tại sao tỉ giá này lại phản ánh mối quan hệ đến tỉ giá hối đoái? Bởi vì khi tỉ giá này tăng đồng nghĩa với giá trị và nhu cầu của hàng một nước tăng cao hơn so với giá trị của hàng nhập khẩu. Khi nhu cầu hàng hóa của một nước tăng cao trên trường quốc tế dẫn đến nhu cầu tiền tệ của nước đó trên trường quốc tế cũng sẽ tăng vì các đối tác cần tiền của nước đó để có thể mua hàng. Nhu cầu tiền tệ của một nước tăng thì đồng tiền xứ đó càng có giá trị và tỉ giá hối đoái tăng theo. Lấy ví dụ như Mỹ. Nếu khi thế giới càng ngày càng muốn mua hàng Mỹ thì nhu cầu mua đô la Mỹ của thị trường tăng, nhu cầu tăng dẫn đến đồng đô la Mỹ tăng giá, và ngược lại.

Và cuối cùng, thứ sáu là sự ổn định và phát triển về mặt vĩ mô, bao gồm các ổn định chính trị, tình trạng tăng trưởng của nền kinh tế, gia nhập hay rời khỏi các hiệp ước quân sự, quốc phòng, ngoại thương,…Các yếu tố này sẽ thuyết phục liệu các nhà đầu tư nước ngoài có nên đổ tiền vào đầu tư ở một nước hay không. Nếu họ đổ tiền vào thì sẽ dẫn đến việc tăng giá của đồng bạc bản xứ, và ngược lại.

*****

Nhìn lại các nhân tố này, giờ đây chúng ta thử phân tích xem giá trị của tiền đồng Việt Nam sẽ phải thay đổi thế nào với đồng đô la Mỹ trong vòng một năm qua.

Đầu tiên chúng ta xem thử mức lạm phát và lãi suất gửi ngân hàng kỳ hạn 3 tháng. Ở Mỹ, lạm phát trong năm 2016 ở mức khoảng 1.5% và lãi suất tiền gửi ở các ngân hàng là không đáng kể. Trong khi ở Việt Nam, mức lãi suất kỳ hạn 3 tháng ở mức 4%/năm và mức lạm phát thực được ước đoán ở con số ít nhất 10%/năm (khác với con số báo cáo bởi chính phủ). Giả sử như không có yếu tố nào khác can thiệp vào tỉ giá hối đoái đô la Mỹ và tiền đồng, điều này tương đương với việc tiền đồng sẽ phải mất giá so với đô la Mỹ ít nhất là khoảng 5% trong năm 2016.

Giờ chúng ta đánh giá các nhân tố còn lại. Theo dự báo của HSBC, mức thâm hụt tài khoản vãng lai của Việt Nam ở khoảng 1,6% trong năm 2016 [2].

Mức nợ công Việt Nam tăng mạnh, từ con số 62,2% GDP cuối năm 2015 có thể tăng đến mức 64,4% GDP vào cuối năm 2016 [3].

Không có con số về sự thay đổi của tỉ giá mậu dịch của Việt Nam để có thể đánh giá. Tuy vậy, nhìn chung những quan sát cho thấy khó có tình trạng nhu cầu hàng hóa của Việt Nam tăng mạnh trên trường quốc tế, nếu không nói là ngược lại, khi gạo và thủy sản, những mặt hàng xuất khẩu chủ lực, của Việt Nam bị cho là không đảm bảo an toàn và bị trả lại [4,5,6].

Tình hình kinh tế vĩ mô Việt Nam càng ngày càng trở nên khó khăn. Nợ xấu của ngân hàng không thể giải quyết và chính phủ phải tính đến phương án cho thí điểm phá sản. Ô nhiễm biển miền Trung khiến hải sản khó xuất khẩu và nền kinh tế của các tỉnh miền Trung điêu đứng. Doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động tăng mạnh, trung bình 200 doanh nghiệp phá sản mỗi ngày [7, 8]. Trong khi đó thì nền kinh tế Mỹ dù tăng trưởng chậm, nhưng tương đối ổn định.

Hiệp định thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP) nhiều khả năng sẽ không được thông qua trong ngắn hạn.

Những con số trên đều có tác động tiêu cực đến vị thế của tiền đồng Việt Nam, và một mức điều chỉnh giá cho phù hợp với những thay đổi trong suốt năm 2016 phải ở mức 10%. Nếu tỉ giá hối đoái vào tháng 1/2016 ở mức 22,500 VND/1USD thì tỉ giá đúng ra vào cuối năm phải ở mức xung quanh 24,750 VND/1USD.

OL, 3.12.2016



Tham khảo:

[1] “USD trên thị trường tự do đã vượt 23.000 đồng”. Tiếp thị Thế giới. Ngày 3/12/2016. Nguồn: http://tiepthithegioi.vn/tai-chinh/usd-tren-thi-truong-tu-do-da-vuot-23-000-dong/

[2] “Năm 2016, mức thâm hụt tài khoản vãng lai sẽ ở mức 1,6% GDP”. Kinh tế và Dự báo. Ngày 3/12/2016. Nguồn: http://kinhtevadubao.vn/chi-tiet/91-4726-nam-2016-muc-tham-hut-tai-khoan-vang-lai-se-o-muc-16-gdp.html

[3] “Nợ công đang tiến sát trần?”. Infonet. Ngày 20/8/2016. Nguồn: http://infonet.vn/no-cong-dang-tien-sat-tran-post206707.info

[4] “Báo động gạo Việt sang Mỹ bị trả về”. Vneconomy, ngày 3/10/2016. Nguồn: http://vneconomy.vn/thi-truong/bao-dong-gao-viet-sang-my-bi-tra-ve-2016100210284730.htm

[5] “EU lại "rút thẻ vàng" với thuỷ sản Việt Nam”. Dân Trí, ngày 7/10/2016. Nguồn: http://dantri.com.vn/kinh-doanh/eu-lai-rut-the-vang-voi-thuy-san-viet-nam-20161007200818244.htm

[6] “EU cảnh báo thuỷ sản Việt Nam nhiễm kim loại nặng”. Vneconomy, ngày 7/10/2016. Nguồn: http://vneconomy.vn/thi-truong/eu-canh-bao-thuy-san-viet-nam-nhiem-kim-loai-nang-20161007024519652.htm

[7] “Doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động tăng mạnh – có đáng lo ngại?”. CafeF, ngày 31/3/2016. Nguồn: http://cafef.vn/doanh-nghiep/doanh-nghiep-tam-ngung-hoat-dong-tang-manh-co-dang-lo-ngai-20160331154802659.chn

[8] “Mỗi ngày vẫn có 200 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động”. CafeF, ngày 1/8/2016. Nguồn: http://cafef.vn/moi-ngay-van-co-200-doanh-nghiep-tam-ngung-hoat-dong-20160801155750566.chn

Từ "thiên đường" Cuba sang "trần ai" Hoa Kỳ

Trong khi nhiều người ca ngợi những thành tựu của Cuba từ miễn phí giáo dục, y tế và hệ thống chăm sóc sức khỏe tiên tiến, thậm chí một số còn đi xa hơn khi ví Cuba như thiên đường trên mặt đất nơi ai cũng được chăm sóc như nhau, thì hàng ngày hàng giờ, nhiều người Cuba ở hòn đảo bé nhỏ chỉ chiếm vừa hơn 11 triệu người này, vẫn lặng lẽ kiếm cách vượt biên sang đất nước đứng đầu thế giới tư bản, Hoa Kỳ, nơi mà giáo dục chẳng miễn phí, và y tế phải đóng tiền, và nơi mà như được mô tả trong các giáo trình kinh tế chính trị Marx-Lenin, một ý thức hệ mà Cuba vẫn dùng làm kim chỉ nam cho đến nay, là nơi mà người bóc lột người.

Thật lạ. Lạ là vì nếu như Cuba là một đất nước thiên đường, hẳn nhiều người Cuba không liều sống liều chết bỏ nước mình ra đi kiếm tìm một tương lai cho mình và cho gia đình ở một đất nước "trần ai" như Hoa Kỳ, nơi không có gì là miễn phí và bạn phải làm việc để kiếm tiền trang trải các sinh hoạt. Họ, những người Cuba, lớp băng đường mòn lặng lẽ đi xuyên Trung Mỹ, băng qua Mexico, và đến nộp mình xin tị nạn ở cổng biên giới Mỹ. Lớp còn lại cố sống cố chết lên thuyền ôm phao bơi xuyên eo biển với hi vọng cập bờ vào Hoa Kỳ.

Chín mươi dặm Anh, hay chừng 144 cây số, là khoảng cách ngắn nhất giữa Cuba và điểm gần nhất của nước Mỹ là Key West của Florida. Nhưng đối với nhiều người, đó là một khoảng cách xa xăm để nối hai đầu của hai thế giới: thế giới của một trong những nước xã hội chủ nghĩa hiếm hoi còn sót lại, và thế giới của trùm tư bản nơi cấm vận và cô lập hòn đảo trong suốt sáu thập niên.

Chín mươi dặm cũng là chặng đường vượt biển mướt mồ hôi và đầy nguy hiểm mà những số phận người Cuba vượt biển cầu mong ngắn lại. Trong số khoảng 100 ngàn nạn nhân chết vì chế độ của Fidel Castro, một số lớn những nạn nhân chết trên đường vượt eo biển chạy trốn chế độ. Họ chết khi bị tàu của công an biên phòng và cảnh sát biển Cuba bắn, và họ chết khi tàu đắm và bị cá mập ăn thịt. Không ai đếm được chính xác những cái chết, vì không còn ai để kể. Những con số tất cả chỉ là những ước lượng.

Với việc nới lỏng cấm vận Cuba của Mỹ trong hai năm gần đây, lượng người Cuba nhập cư vào Mỹ tăng đột biến. Theo đạo luật Cuban Adjustment Act năm 1966, những người Cuba nhập cư vào Mỹ nhận một qui chế đặt biệt: họ chỉ cần đến một cửa khẩu biên giới và trải qua một cuộc kiểm tra bao gồm việc hoàn chỉnh hồ sơ tội phạm và quá khứ nhập cư vào Mỹ. Và sau đó, khi họ đã định cư ở Mỹ được 1 năm thì họ được phép nộp đơn để cư trú vĩnh viễn.

Những người nhập cư bằng đường bộ thường đi qua cổng kiểm soát biên giới khu vực Laredo ở Texas, nằm trên biên giới với Mexico. Đầu tiên họ đi máy bay sang một quốc gia khác ở Trung Mỹ, chẳng hạn như Ecuador, sau đó di chuyển bằng các phương tiện xuyên qua Trung Mỹ, Mexico và cuối cùng đến biên giới giữa Mexico và Mỹ.

Chính sách của chính quyền Mỹ hiện nay cấm nhập cư bằng đường biển. Những ai cố tình vượt eo biển để vào Mỹ, nếu bắt được, sẽ bị trả về lại Cuba hoặc một nước thứ ba. Lí do là vì vượt biên bằng đường biển quá nguy hiểm. Tuy vậy, trong năm 2015, vẫn có 3,505 người vượt biên bằng đường biển bị bắt, cao hơn con số 2,111 người năm 2014.

Chỉ riêng 10 tháng đầu năm 2016, số lượng người Cuba vào Mỹ là 46,635 người, tương đương với mỗi ngày khoảng gần 155 người, khi so với toàn năm 2015 là 43,159 và năm 2014 là 24,278. Chỉ trong 3 năm vừa rồi, con số người vượt biên từ Cuba vào Mỹ đã ở con số hơn 114 ngàn người, và so với dân số Cuba chỉ hơn 11 triệu người thì tương đương với con số là 1%.

Tổng số người Mỹ gốc Cuba chiếm khoảng 2 triệu người, và hơn một nữa trong đó, khoảng 57%, là được sinh ra ở Mỹ.

Đễ dễ hình dung, thì nếu so sánh với Việt Nam với dân số hơn 90 triệu người thì con số di cư hơn 1% trong 3 năm đó khi tính luôn cả 2 tháng cuối cùng của năm 2016 sẽ tương đương với con số gần 1 triệu người. Nó tương đương với dân số một tỉnh lớn của Việt Nam như Khánh Hòa. Hay nói một cách khác điều đó đồng nghĩa với dân số toàn một tỉnh bỏ xứ ra đi trong 3 năm.

Nếu chính sách nới lỏng này của Hoa Kỳ tiếp tục trong vài năm nữa, không biết còn bao nhiêu người Cuba sẽ ở lại để tận hưởng "thiên đường xã hội chủ nghĩa" trên đất nước mình?

OL,2.12.2016


Tham khảo:

http://www.pewresearch.org/fact-tank/2016/08/05/cuban-immigration-to-u-s-surges-as-relations-warm/