Ngày 17/11/2022, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã thông qua Nghị quyết số 29 trong đó đưa ra tầm nhìn đến năm 2030 và kéo dài đến năm 2045.
Theo Nghị quyết số 29, mục tiêu tổng quát của Việt Nam đến năm 2030, tức còn 5 năm nữa, đó là: Việt Nam cơ bản đạt được các tiêu chí của nước công nghiệp, là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đời sống của nhân dân được nâng cao. Và tầm nhìn đến năm 2045 đó là Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao, thuộc nhóm các nước công nghiệp phát triển hàng đầu khu vực châu Á.
ECONOMICA
16.2.25
8.2.25
Việt Nam sẽ chuẩn bị gì cho thương chiến?
Thế giới đang bước vào một cuộc chiến tranh thương mại mà ở đó Hoa Kỳ dưới quyền của tổng thống Donald Trump đang sử dụng thuế quan như một vũ khí nhằm đòi hỏi những yêu sách để đem lại lợi ích cho Hoa Kỳ.
Thương chiến Mỹ – Canada
Canada là đối tác thương mại hàng đầu của Mỹ. Năm 2023, Canada xuất 77% hàng của họ sang Mỹ và nhập một nửa hàng mà họ cần từ Mỹ.
Mỹ cũng là nước cung cấp đầu tư nước ngoài nhiều nhất vào Canada mà tính tới năm 2023 là 455 tỉ USD; và Canada là nước đứng thứ ba có đầu tư nước ngoài vào Mỹ, chiếm 671 tỉ USD cho đến năm 2023.
Mỹ cũng là nước cung cấp đầu tư nước ngoài nhiều nhất vào Canada mà tính tới năm 2023 là 455 tỉ USD; và Canada là nước đứng thứ ba có đầu tư nước ngoài vào Mỹ, chiếm 671 tỉ USD cho đến năm 2023.
14.1.25
Nghị định 168: kẹt xe tác động đến nền kinh tế thế nào?
Nghị định 168 được chính phủ Việt Nam đưa ra với các mục đích công khai là chấn chỉnh tình trạng giao thông của quốc gia. Nhưng trái ngược với mục tiêu ban đầu, ít nhất là trên giấy tờ, là giúp cho giao thông được thông suốt hơn, nó lại tạo ra sự tắc nghẽn giao thông kinh hoàng ở những thành phố lớn.
8.1.25
Liệu Việt Nam có xây dựng trung tâm tài chính quốc tế thành công?
Thủ tướng chính phủ Phạm Minh Chính vào ngày 4/1 công bố Nghị quyết 259 nhằm xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng trở thành những trung tâm tài chính khu vực và quốc tế.
24.12.24
Hiến pháp Cộng hoà Liên bang Việt Nam. Chương 4. Thượng nghị viện
Chương 4 trình bày cấu trúc và chức năng của Thượng nghị viện. Nguyễn Huy Vũ.
-
Điều 49. Chức năng Thông qua Thượng nghị viện, các bang sẽ tham gia vào hoạt động lập pháp và hành chính của liên bang.
Điều 50. Thành phần
(1) Thượng nghị viện sẽ bao gồm các thành viên của chính quyền các bang. Các chính quyền bang chịu trách nhiệm bổ nhiệm, triệu hồi, và thay thế các thành viên này.
(2) Mỗi bang sẽ có tối thiểu ba phiếu bầu; các bang có hơn hai triệu dân sẽ có bốn phiếu, các bang có hơn sáu triệu dân sẽ có năm phiếu, và các bang hơn bảy triệu dân sẽ có sáu phiếu.
(3) Mỗi bang bổ nhiệm số thành viên tương đương với số phiếu của mình. Các phiếu của mỗi vùng chỉ được bỏ như một đơn vị nhằm thể hiện quan điểm chung của vùng và chỉ bởi các thành viên có mặt hoặc những người thay thế họ.
Hiến pháp Cộng hoà Liên bang Việt Nam. Chương 3 – Hạ nghị viện
Chương 3 trình bày tổ chức và hoạt động của Hạ nghị viện. Nguyễn Huy Vũ.
(1) Thành viên của Hạ nghị viện được bầu từ các cuộc bầu cử phổ thông, trực tiếp, tự do, bình đẳng và bỏ phiếu kín. Họ đại diện cho toàn dân, không bị ràng buộc bởi các chỉ đạo hoặc hướng dẫn và chỉ chịu trách nhiệm trước lương tâm mình.
(2) Công dân đến tuổi mười tám sẽ được quyền bỏ phiếu. Công dân đã đạt tuổi trưởng thành có thể được bầu chọn.
(3) Các chi tiết được quy định bởi luật liên bang.
Điều 36. Nhiệm kỳ – Triệu tập
(1) Hạ nghị viện được bầu theo nhiệm kỳ bốn năm. Nhiệm kỳ của nó kết thúc khi Hạ nghị viện mới được triệu tập. Cuộc bầu cử mới được tổ chức không sớm hơn bốn mươi sáu (46) tháng và không muộn hơn bốn mươi tám (48) tháng sau khi một nhiệm kỳ bắt đầu. Nếu Hạ nghị viện bị giải thể, cuộc bầu cử mới được tổ chức trong vòng sáu mươi (60) ngày.
(2) Hạ nghị viện sẽ triệu tập cuộc họp chậm nhất là ngày thứ ba mươi (30) sau ngày bầu cử.
(3) Hạ nghị viện sẽ xác định thời điểm hoãn và tiếp tục các phiên họp. Chủ tịch Hạ nghị viện có thể triệu tập cuộc họp vào ngày sớm hơn. Chủ tịch Hạ nghị viện có nghĩa vụ triệu tập cuộc họp khi một phần ba thành viên Hạ nghị viện, Tổng thống hoặc Thủ tướng yêu cầu.
-
Điều 35. Bầu cử
(1) Thành viên của Hạ nghị viện được bầu từ các cuộc bầu cử phổ thông, trực tiếp, tự do, bình đẳng và bỏ phiếu kín. Họ đại diện cho toàn dân, không bị ràng buộc bởi các chỉ đạo hoặc hướng dẫn và chỉ chịu trách nhiệm trước lương tâm mình.
(2) Công dân đến tuổi mười tám sẽ được quyền bỏ phiếu. Công dân đã đạt tuổi trưởng thành có thể được bầu chọn.
(3) Các chi tiết được quy định bởi luật liên bang.
Điều 36. Nhiệm kỳ – Triệu tập
(1) Hạ nghị viện được bầu theo nhiệm kỳ bốn năm. Nhiệm kỳ của nó kết thúc khi Hạ nghị viện mới được triệu tập. Cuộc bầu cử mới được tổ chức không sớm hơn bốn mươi sáu (46) tháng và không muộn hơn bốn mươi tám (48) tháng sau khi một nhiệm kỳ bắt đầu. Nếu Hạ nghị viện bị giải thể, cuộc bầu cử mới được tổ chức trong vòng sáu mươi (60) ngày.
(2) Hạ nghị viện sẽ triệu tập cuộc họp chậm nhất là ngày thứ ba mươi (30) sau ngày bầu cử.
(3) Hạ nghị viện sẽ xác định thời điểm hoãn và tiếp tục các phiên họp. Chủ tịch Hạ nghị viện có thể triệu tập cuộc họp vào ngày sớm hơn. Chủ tịch Hạ nghị viện có nghĩa vụ triệu tập cuộc họp khi một phần ba thành viên Hạ nghị viện, Tổng thống hoặc Thủ tướng yêu cầu.
Subscribe to:
Posts (Atom)